Showing posts with label Khoa học. Show all posts
Showing posts with label Khoa học. Show all posts

Saturday, December 19, 2009

Vạn pháp dung thông trường


Điều kiện cần yếu để phát minh sáng tạo, theo A. Einstein, là tâm tư ngoại lệ, không chấp trước, không thành kiến, tự do tưởng tượng, vô bờ, fantaisies, chứ không phải kiến thức đầy đặc thành khuôn nếp trong đầu, ông từng nói

Vật lý phá chấp

Điều kiện cần yếu để phát minh sáng tạo, theo A. Einstein, là tâm tư ngoại lệ, không chấp trước, không thành kiến, tự do tưởng tượng, vô bờ, fantaisies, chứ không phải kiến thức đầy đặc thành khuôn nếp trong đầu, ông từng nói : " I am enough of an artist to draw freely upon my imagination...the gift of fantasy has meant more to me than my talent for absorbing positive knowledge ", không tự do thì không có sáng tạo, không phá chấp, thì không thể chuyển hóa, cho nên giống như Phật pháp, cần phá chấp, không biên kiến, không bị kẹt vào có với không, nhỏ với to, cao hay thấp, tất cả chỉ là những danh từ, những kiến chấp, rất tương đối.

Không có biên giới giữa các sinh vật, con khỉ Ngộ được Không, cũng thành Tôn sư đại thánh, cho đến ma nữ yêu tinh...cũng chẳng sai biệt, quốc độ của họ còn nặng nghiệp, nhưng chẳng khác nhau bao nhiêu, cho nên nếu tu tập tinh tấn, chưa tới mức thiên nhãn, thiên nhĩ như Bồ tát, thiện nhân vẫn có thể "chiếu yêu kính" nhìn ra chân tướng, nghe được tiếng tạp giới chúng sinh...Cho nên tác giả Liêu Trai Chí Dị xóa hết bức tường chia cách: dạ xoa, chồn, cáo...vẫn có thể biến hóa, lấy người, yêu người, trong một khoảnh khắc kiếp hồng nhan...bông hoa, cánh bướm, thậm chí sâu bọ, cũng mang Phật tính, vũ trụ phá chấp, chúng sinh đồng nhất thể, người trần mắt thịt, làm sao biết cỏ cây sỏi đá vô giác vô tri ?

A. Einstein đã đi vào lộ trình phá chấp của Phật pháp, vạn pháp duy tâm tạo, tất cả Tứ đại-đất, nước, khí, lửa- vạn pháp giai không cũng được, mà vạn pháp giai hữu cũng được, " có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian này cũng không" người bình dân VN ai cũng thuộc lòng thấm thía câu đó, hẳn nhà bác học Do Thái kia cũng đốn ngộ bừng thấy lý phổ quát tương đối trong vũ trụ, chẳng có lực nào riêng rẽ, cho nên, vật chất mới hóa thành năng lượng, được vận tốc ánh sáng bốc lên : E= MC 2, vũ trụ tam thiên đại thiên thế giới này, ống kính Hubbles thiên văn thấy là đa vũ trụ, toàn pháp giới Vô Lượng Quang tử, ánh sáng big bang, ánh sáng cong, ánh sáng xoáy vòng vào thiên ngục black hole...Nam mô A di đà...Amitabha, chỉ là cái tên cho nhân gian hiểu, thật ra, trên bình diện vũ trụ, nghĩa là quang tử, là photon, là quantum...gì gì nữa, vô lượng, vô khả luận...

Đã là vô lượng quang Amitabha, thì làm gì có không gian giam hãm, làm gì có thời gian non hay già...không đến, không đi, không còn, không mất, không nhơ, không sạch...cho nên cả vũ trụ có thể chứa trong một lỗ chân lông Bồ tát, tất cả ba thế giới trên đầu một hột cải...cái to trong cái nhỏ, cái nhỏ trong cái to, lớp lớp như những mảnh kính mảnh gương soi chiếu muôn chiều vô lượng...ánh sáng trong tâm cũng là ánh sáng trong vũ trụ và ánh sáng quanh mặt trời cũng chỉ thu vào đồng tử một con mèo...vi quang tử, photon, boson, vi tử Hoa nghiêm, nở trùng trùng hun hút vào chốn thiên thai, không gian mấy chiều cũng được và thời gian muôn ngả cũng vẫn đứng yên vì chiếc thảm thần tiên bay cùng vận tốc với cả giải ngân hà trăng sao... tại sao loài người thắc mắc về durée của đời sống, khi cõi tâm có tốc độ nhanh bằng hay hơn điện từ trường? nhảy một bước, như Tôn Ngộ Không, nhảy hai bước, từ thức, nhập cõi thiên thai...

Nhà vật lý học như A. Einstein thì không chịu chuyện " bất khả tư nghị", ông muốn biết Tạo Hóa nghĩ gì - I want to know God' thoughts; the rest are details- ông đi tìm Vũ trụ Thống nhất trường- Unified Theory, quân bằng phương trình, bó 4 lực lại thành một bó: trọng lực, điện từ lực, lực mạnh và lực yếu hạt nhân (gravitational-, electromagnetic- strong- weak- nuclear forces), nghĩa là không còn cách biệt giữa Không Thời gian,...Năm ngàn năm trước, Phục Hy cũng đã thống nhất hai lực Âm Dương, một âm một dương, tứ tượng, bát quái, rồi 64 quẻ... thống nhất quy vào Thái cực, nhưng trên Thái cực là gì ? là Tạo hóa chăng? là ông Trời chăng ?...hệ thống suy tưởng Âm Dương đã là cao, nhưng tới Thái cực thì vẫn chưa hết gợn sóng ý niệm, còn " Cực" dù là cực thái! Nhà Phật, thấy cái ngõ cụt ấy, phá hết biên kiến Vật- Tâm, quét sạch vọng niệm, tới mức phi tưởng, phi phi tưởng, tới mức Thiền bậc bảy bậc tám bậc chín...quán, tuệ.

Cuối đời, sau gần 30 năm mài miệt suy tưởng về Vũ trụ Thống nhất trường, Eisntein đã tâm sự là chưa tìm ra luật phổ quát nhất thống tất cả mọi lực trong vũ trụ...vũ trụ bành trướng, ngân hà ngày một văng ra xa, không co rút và bành trướng như suy luận, không có hằng số vũ trụ (cosmological constant) nhưng có thiên ngục black hole, ba lực bó lại làm một dung thông nhưng trọng lực thì vẫn nằm ngoài v..v.. gần đây vật lý gia Stephen Hawking, muốn nhất thống quang lực quantum với trọng lực trong một lý thuyết bao gồm tất cả- a theory of everything, còn Einstein thì không thích sự tình cờ trong thuyết lý quantum, ông nói " Tạo hóa không chơi xúc sắc xúc sẻ " God does not play dice...và ông muốn tìm kiếm xem Tạo hóa nghĩ gì khi sáng tạo ra vũ trụ, điều lý thú nhất, kỳ diệu nhất, theo Einstein là tại sao ta lại hiểu được những gì tưởng là không thể hiểu! (...The eternal mystery of the world is its comprehensibility...). Nhưng rồi giới hạn nhân sinh, Einstein cũng phải buông bỏ, về chầu Tạo hóa Tâm vũ, một cosmic God, không phải là một Thượng đế ngồi cao thưởng phạt loài người... Có thể ông đã đọc thoáng qua kinh Phật, từng đọc kinh sách cổ thư Ấn độ, từng ngồi trò chuyện với Tagore, nhưng nếu đi sâu hơn vào kinh Phật, không chừng sẽ kiến tánh đại ngộ, Vật lý chỉ là phương tiện của dục giới, có tìm hiểu đến đâu thì vẫn quanh quẩn trong hình sắc vật thể, pháp hữu vi chẳng thể dùng để đạt pháp vô vi, tục đế làm sao vươn tới chân đế... Vô sắc giới, cõi Tâm, tạm gọi như là một Cõi, thực ra Tâm không còn là Cõi, không còn hai cái cột Không- Thời nữa, thì không thể đóng khung vào một Cõi nào, và như thế mới là thể tính, là nền chung, là Thống nhất trường, vừa sắc giới, vừa vô sắc giới, vừa cõi này, vừa các cõi kia, vừa nhân thiên địa, tam tài, thông cả tam giới là Vương, một vạch thẳng thông qua ba vạch ngang, Dịch và Nho, Lão, đã là cao, nhưng lý Hoa nghiêm còn cẩn trọng hơn, thiên địa nhân, đúng, nhưng Thiên là một ẩn số, đa thiên vũ trụ, tam thiên đại thiên, vô lượng, vậy thì hãy lấy lý sự sự vô ngại, lý lý dung thông, làm quy luật vũ trụ thống nhất trường, có lẽ sát với tầm vóc tề thiên hơn... Einstein nói " Sự tương đối dạy ta tính dung thông giữa các hình sắc dị biệt của cùng một thực tướng- Relativity teaches us the connection between the different descriptions of one and the same reality. Những vi tử như proton, neutron, pion...biến dạng luôn luôn đến nỗi các vi tử có thể xem như nối kết -combination- với nhau chứ không riêng rẽ (In the Flower Garland Sutra, each part of physical reality is contracted of all the other parts- The Dance Wu Li Master-An overview of the new Physics by G.Zukav p.238).

Lý sự Hoa Nghiêm

Nhà Phật tùy duyên phân ra Tam giới: Dục giới bao gồm Người, A tu la ( dưới người một cấp độ), Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh- Sắc giới gồm các vị trời, đã vượt qua nhị biên nam nữ, hết dục vọng, sống trong thiền định, chính ở Sắc giới mà công phu thiền định, từ sơ thiền đến nhị thiền, tam thiền lên tứ thiền...thì hào quang đã phát ra rực rỡ, đã sinh hóa từ cõi dục vật thể sang cõi vô lượng quang, cõi thanh tịnh, tới Vô sắc giới, chẳng còn hình sắc, chẳng còn nam nữ âm dương, cảnh giới này thuần nghiệp thức, thuần tâm, vô biên, vô sở hữu, phi tưởng, phi phi tưởng...là nhất thống trường mà Einstein phải chăng đã cố tìm kiếm ?

Tính dung thông phổ quát, vô ngại, phá chấp...có thể giúp tìm hiểu thuyết luân hồi rộng rãi hơn: óc chấp trước duy khoa học thì thấy mâu thuẫn khi con người đã chết, đã tắt, thì còn cái gì lăn lóc mấy ngả luân hồi nữa...Will Durant viết " ..if there is no soul, how can it pass into other existences...He ( Buddha) took the Wheel of Rebirth and the Law of Karma for granted...Our Oriental Heritage tr.435 )..Tuy Will Durant biết nhà Phật chú trọng tới việc chấm dứt luân hồi, tới giải thoát, nhưng chưa thấu lẽ sắc sắc không không, vô thường, thiên biến vạn hóa của chúng sinh...nên còn kẹt vào ý niệm linh hồn -soul- bất biến vật lý của tôn giáo thần linh; nếu hiểu theo nghĩa linh động, dị tướng mà đồng tướng hiện tượng nhưng bản thể vẫn nhất như, thì sẽ không còn thấy mâu thuẫn, vì Luân Hồi chỉ là sự chuyển hóa - the process of transformation relative to one's karmic account, tùy nghiệp tùy duyên, của chủng tử, soi chiếu nhau như ánh đèn trong vạn vạn tấm gương, sang hình này dạng kia, sang cõi này cõi khác, có khi, trở lại cõi người tái sinh duyên, như người phải đi học lại, học" đúp", kiểu tú kép tú mền...nặng nợ trần gian. Trong vòng luân hồi samsara ngọn lửa chưa phụt tắt, nó còn le lói, âm ỉ, cho tới khi giải thoát rốt ráo, nhập Niết bàn, mới gọi là tắt ngấm...không còn chuyện còn hay hết nữa. Cũng có thể ví như một bản đại hòa âm vũ trụ, nốt nhạc này trầm xuống, nốt nhạc kia nổi lên, nốt trầm không hẳn là hết, vẫn là nhạc biến hóa sang cung bậc khác mà thôi. Cho nên súc sinh ngạ quỷ chuyển hóa lên người, người hóa thành quỷ, thành cậu chó, hổ biến ra người, trâu bò gà lợn... hóa kiếp thành đồ tể...nàng kiều hết kiếp thành ni cô...v..v..trẻ thơ chết non là hết nghiệp trần gian chuyển qua kiếp khác...tất cả như một tổng thể, những làn sóng trên biển cả, sóng to sóng nhỏ, lồng vào nhau, hóa hiện như riêng mà vẫn chung đại hải.

Vũ trụ tại tâm, thiên lý tại nhân tâm, dung thông giữa Phật, Khổng, Lão, cũng là sự dung thông giữa cảnh giới, người, vật, tiên, trời, Bụt...hiểu chữ Bụt như một luồng sáng phổ quát khắp mọi vũ trụ, thì búp sen trong ao bùn, hay vũ trụ hoa nghiêm cũng giống nhau: kinh Hoa Nghiêm (hua yen- avatamsaka flower garland sutra) cho vũ trụ như lớp lớp gió xoáy, tỷ tỷ như bụi đá núi Tu Di đập nát ra, tựa đóa sen, đài sen ở giữa cứng bền như kim cương, hạt sen nằm trong những lỗ đại dương diệu hương thơm ngát, nhiều vô lượng, như những nguyên tử atoms không thể mô tả trong vô lượng Bụt trường (buddha fields), cõi tịnh độ này, trong cửu phẩm liên hoa, chín bậc cao thấp, thượng thiên (1 tỷ cõi), trung thiên (1 triệu cõi) , hạ thiên (1 ngàn cõi), cũng là ngụ ngôn về sinh thành vũ trụ , mỗi cánh sen là một tỷ thế giới, tức một Tam thiên đại thiên cõi ( Sutra of the perfect net -Kinh Diệu võng) và cũng chỉ là một hạt bụi quay vòng xoáy ốc trong vô lượng đám bụi tinh thể khác.

Hiểu Bụt như một lực phổ quát sẽ thấy chuyện Tề Thiên Đại Thánh trong Tây Du Ký toan đi ra ngoài vũ trụ mà rút cuộc vẫn nằm trong bàn tay Bồ tát là hàm chứa thiền quán Bụt trường thống nhất vậy. Những thuyết vật lý mới, không gian 4 chiều tới 11 chiều sợi dây vi tử- như dây đàn- khi rung lên sẽ tạo ra nốt nhạc tức là những vi tử nhỏ hơn nguyên tử, gần như không có trọng lực-massless, rất giống với lời dạy lân không, gần cận với không, của Đức Phật, (string theory-subatomic particles), các sợi dây vi tử rung động-vibrate- trong không gian và thời gian, rung động làm cong không gian, gravity & bending of space, và dây đàn rung lên chính là quang lực, vibrations & quantums...cố gắng thống nhất trọng lực với quang lực này lại càng củng cố tư tưởng Hoa Nghiêm, sự sự dung thông, lý lý vô ngại mà thôi.

Dường như tổ tiên Việt Nam, những nhà sư đời Lý, ngàn năm Thăng Long, cũng đã thấu lý Hoa nghiêm vũ trụ. Xứ nghèo chẳng kiến trúc vĩ đại như bên Nam Dương Borobodur với vòng vòng lớp lớp núi Tu di cánh sen đài ngọc theo mô hình Mạn đà la...các vị giản qui vào một cánh sen nhất trụ kình thiên chùa Một Cột, một cột đá nổi lên từ hồ sen đỡ Liên Hoa đài (đời Lý Thái Tôn 1049), đài thờ Quan Âm..hình dạng chùa phảng phất một Bụt trường tâm vũ quán (cosmopsychoawakening) trong Hoa nghiêm và Diệu Hoa kinh. Công phu giản quy đó phản ảnh sức nhất thiết chủng trí, khả năng tập đại thành viên giác, dẫn vào vũ trụ thống nhất trường, nhẹ nhàng như làn gió trên mặt hồ phảng phất hương sen. Tháp Báo Thiên, với chóp tháp Đao Lợi Thiên, nay đã mất, một trong Tứ khí của đất nước, hẳn là cột trụ-axis mundi- lên cõi Trời Đao Lợi, vòm tháp stupa thường hình tròn như quả trứng-anda -cosmic egg, nở ra vũ trụ...cho đến Đế Thiên Đế Thích...cũng biểu trưng vũ trụ Bụt trường và có thể đã được kiến trúc theo dạng đồ chòm sao thất tinh giống như các Kim Tự tháp ở Ai cập, ở Trung Mỹ Maya...Biểu tượng OM (trong Om mani padme hum, ngọc quý hoa sen) và Màyà (màn vô minh che mờ tuyệt đối Brahman) đều là những lực vũ trụ... Phải chăng nhân loại từ dăm ngàn năm trước đã có một nền văn minh tổng hợp thiên, địa, nhân giới ? Từ phù đồ stupa chuyển sang Viễn đông thành chùa, bảo tháp pagoda, gốc gác từ chữ dagoba của Tích lan, tức nơi chứa xá lợi và xá lợi chính là ngọc quý- mani ?

Thế thì trong Bụt trường thống nhất đó, cái gì là hoạt lực đưa đẩy chúng sinh chuyển hóa từ cõi này sang cõi kia, cái gì đẩy toang cửa khiến mọi quốc độ dung thông với nhau? Quốc độ- field levels- tùy theo nghiệp nặng hay nhẹ, nặng thì xuống Địa ngục, nhẹ thì vào Cực lạc, 10 độ chính "nhất tâm cụ thập pháp giới": Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh- A tu la, NGƯỜI- Thiên, Thanh văn, Duyên giác- Cực lạc-Niết Bàn, kinh qua 9 cửa, cửa chuyển hóa nhờ tu tập sám hối tỉnh ngộ, nhân tốt, quả lành, nghiệp nhẹ, giúp chúng sinh đang ở Địa ngục được lên lớp cao hơn...không bị kẹt mãi ở một quốc độ...hoạt lực chuyển hóa chính là nghiệp, như một lực phổ quát- universal energy-chi phối nhất thống trường. Điều quan trọng là Nghiệp lực không là lực riêng rẽ ở ngoài chúng sinh, ở ngoài pháp tướng, nó chính là chủng tử nằm cùng, tương tức tương tác với chúng sinh mọi quốc độ, nó là ngọn lửa nhỏ, Biệt nghiệp, cộng với ngọn đuốc lớn, Cộng nghiệp, tất cả, B+C= Bụt trường, tức bản thể " thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm", đấy là nhất thống trường, nghiệp trường hiểu như dụng của Bụt trường bất tăng bất giảm, tăng hay giảm, dơ hay sạch...chỉ là ý niệm của nhân thế. Cho nên Bụt trường P = (B+C) nghiệp x K (kiếp) có thể là diệu pháp thức cho pháp giới vậy.

Einstein và các nhà vật lý học còn kẹt vào tướng, nên không thể thấy nhất thống trường vốn là không tướng bất tăng bất giảm, " nơi nào có tướng nơi đó còn có sự lường gạt " (kinh Kim Cương), tướng là hình sắc hóa hiện như đom đóm mắt, dùng ngũ giác, dùng ý niệm để nắm bắt thì chỉ nắm bắt được cái bóng, như đứa trẻ thơ ngỡ cái bóng trên tường là bố nó trong nhà đêm khuya ánh đèn dầu hắt lên, như người tù trong ẩn dụ hang tối của Platon (allégorie de la caverne) chưa ra ánh sáng, chỉ nhìn thấy ảo ảnh... vật lý gia dựa vào sắc mà phát kiến, dựa vào thanh, hương, vị, xúc, vào pháp mà phát ý, trong khi tâm phải vô sở trụ, không kẹt vào khái niệm, không vướng vào khung cũi, mới "nhi sinh kỳ tâm", mới quán chiếu được, mới đạt tuệ giác sáng tạo, mới nhập vũ trụ thống nhất trường.

Thủy Thiền Do Thái

Einstein và nhiều vật lý gia nguyên tử Do thái, xẻ được hạt nhân, nối được hạt nhân, làm nảy ra lực kinh động không gian, ra bom A, bom H, có lẽ từ khoa huyền bí học Kabbalah chăng? cổ phái Do thái này cũng hình dung vũ trụ như một cái cây, một cái cột, nhất trụ dựng từ đất lên Trời (one pillar extends from earth to heaven), thiện nhân thế gian giữ cột vững, dù chỉ một người...Tạo hóa xẻ một phần ánh sáng cho nhân thế, giữ lại 6 phần kia, chỉ có người quán chiếu diệu quang diệu hương ấy, mới đạt đạo ( Light is sown for the righteous, then the worlds will be fragrant, and all will be one. But until the world that is coming arrives, it is stored and hidden away.), nhất thể Ein Sof hiểu như là Thượng đế thăng hoa- transcendence of God, là nhất thống, unified oneness, each of us emerges from Ein Sof and is included in it...tạo ra vũ trụ, muôn vàn sắc thái, từ luồng sáng vi diệu kia tung tué khắp nơi như thể từ những cái lu vỡ bể ra (sparks of holiness are scattered throughout the cosmos, as a result of the primordial catastrophe of the breaking of the vessels), xem ra, chẳng khác big bang nổ tung phát khởi đa vũ trụ, mà tinh thần Hoa nghiêm, óc Đông phương, được mang vào bí pháp kinh truyền Kabbalah qua đạo sư thi bá Rumi, tông Sufi Hồi giáo quay lộn luân tinh chầu nhật, trong những vần diệu âm :

Trong mỗi thiên hà, ta thấy một hạt nhân
trong mỗi hạt nhân, lại ẩn một thiên thần
dans chaque sphère céleste, je vois une prunelle
dans chaque prunelle je vois un ange

Chốn ta vô trụ không tên
đất trời là một, nhị biên ta từ
my place is the placeless, my trace is traceless
I have put duality away, I have seen that the two are one (1)

Những câu thơ trên của thi hào Rumi chẳng khác nghĩa vi tế tương dung trong Ngộ Đạo Ca của Thiền sư Khánh Hỷ đời Lý:
Càn khôn tận thị mao đầu thượng,
Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung

Tạm dịch :
Càn khôn treo tận đầu lông
Trời trăng chứa hạt cải mòng cũng nên

Tông Sufi bắt nguồn ở miền Afghanistan mang dấu ấn Phật pháp, có lần tràng hạt, có du sĩ...và lạ thay lại đi vào khuynh hướng kỳ bí Kabbalah của Do thái, nếu Phật pháp trong kinh Vô lượng thọ có quán tưởng nước (thủy quán) và quán ao nước (bảo trì quán), thì Kabbalah cũng có phép thủy thiền- ngắm nước mà quán chiếu (Gazing at water developped into a kabbalistic technique of meditation), một phương pháp tập trung tư tưởng, thiền nước, mà Nostradamus, một truyền nhân Do thái tiên tri, đã dùng để viết ra Sấm ký, thế kỷ XVI : Nostradamus thường ngồi trước thau nước, im lặng hàng giờ, quán chiếu thế sự thăng trầm hung cát mà viết ra sấm .

Nhà Phật cũng nói tới nguyên tử, cũng nói tới vật thể nhỏ nhất, nhỏ tới mức gần như hư không-lân không- trong duy thức học, thế thì ngay trong cảnh giới hữu vi sang vô vi cũng chẳng có biên giới rõ ràng chi phối bởi " vật lý", từ vật chất bốc lên thành photon, boson, quang tử có còn là "vật" nữa đâu...chẳng có công thức hữu vi nào đuổi bắt được tề thiên, chẳng có luật tắc hữu hình nào gói được những cơn gió đáy vũ trụ biến ra 32 biến như Quan Âm, cho rằng đầu óc người cũng là một phần đầu óc tạo hóa đi chăng nữa, thì cũng phải nhận rằng ta là ngọn đèn dầu lạc, le lói 1/7 ánh sáng của Bụt trường mà thôi ! nhà Phật không nói tới một Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ, mà nói tới vô lượng Bụt trong vũ trụ, hàm chứa trong vạn vật, pantheistic hơn là monotheistic (Buddhist Cosmo. tr.127), điều này A. Eisntein cũng nói thoáng qua về vô hạn trong hữu hạn : the infinitely superior spirit that reveals itself in the little that we, with our weak and transitory understanding, can comprehend of reality.

*

Những dòng lạm bàn trên chỉ là sự mò mẫm trong biển học. Đạo giáo không nhất thiết dựa vào khoa học vật lý hiện đại để củng cố đạo, làm như thế chẳng khác gì mang phân tích ánh sáng đom đóm để chứng minh ánh sáng mặt trời. Nhưng mò mẫm dẫn khởi lòng tin trong sáng: không có gì ra khỏi bàn tay Hoa nghiêm Bồ tát, dù vi tử hay tinh đẩu, dù vật lý hay tâm lý, dù vô thức hay siêu thức, dù sống hay chết, dù hữu thần hay vô thần...đấy chính là diệu pháp rốt ráo vậy.

Lưu Văn Tịnh (Khoa học và đời sống)

Tham Khảo chính :

Buddhist Cosmology- Akira Sadakata- Kòsei, Tokyo- 1997 
Nhập Pháp Giới- Nghiêm Xuân Hồng- Xuân Thu- 1996
Khái luận Triết lý Kinh Hoa nghiêm - Đức Nhuận- Viện Triết lý VN;
Triết học Thế giới- 2000.
Our Oriental Heritage- The Story of Civilization- Will Durant - MJF Books 1935
Einstein and Buddha-The Parallel Sayings by Thomas J. McFarlane-Seaston 2002
The Dancing Wu Li Master-An overview of the New Physics by Gary Zukav- Bantam 1979.
The Essential Kabbalah- Daniel C. Matt -Castle Books 1995
Le moine et le philosophe- Le bouddhisme aujourd’hui par J.F. Revel et M. Ricard- Nil ed.1997

* Các sách và Websites về Stephen Hawking : Brief History of Time, The Big Bang, Origin of the Universe ... * Các websites về Relativity và Unified theory của A.Einstein như của Leiwen Wu, Encarta Encyclopedia...

(1)Xem Hoa Cát Nóng, dẫn nhập Cổ thi Ả Rập của cùng tác giả, xb 2-2003. Các bản dịch kinh Hoa Nghiêm do các nhà sư từ Ấn và từ xứ A Phú Hãn (như Prajna xứ Kaboul đời Đường) dịch sang Hán văn. A Phú Hãn có nhiều cổ tích Phật (như tượng Phật bị rợ Taliban phá) và là phần đất Ba Tư cổ xưa, cho nên rất có thể các thi nhân Ả Rập, Ba Tư, như Rumi, Hafiz... đã chịu ảnh hưởng Phật giáo.

*Để trình bày, chúng tôi tạm đặt ra một số từ ngữ như:
Bụt trường (Buddha field)
Hoạt lực nghiệp chuyển hóa trong các quốc độ (karma as the universal energy for transformation in Buddha field levels)
Tâm Vũ Quán (cosmopsychoawakening) Diệu pháp thức (B+C) x K, lấy tuệ pháp Phật tri kiến thay cho các tri kiến vật lý như E=MC 2- Tùy nghi ngôn ngữ phương tiện.

Tuesday, August 25, 2009

Global warming vs dharma cooling

It's getting hotter outside. Inside, we need to chill out, one monk says

The natural environment around us has plunged into a catastrophic state. But have we ever noticed that the natural environment inside our body, which includes our peace of mind, is also entering the same situation, due to our boundless greed and over consumption?

Phra Paisal Visalo : ‘‘Dharma is indispensable during this time. Nature and dharma are inseparable. Before restoring nature, we should restore dharma in our mind first.’’

As the world's temperature steadily soars, the temperature inside our mind is also heating up rapidly.

Consequently, global and mental warming situations are not so different, since both phenomena are equally crucial. And they need to be cured simultaneously, since internal heat can affect the external environment. We all should bear in mind that we can survive only if nature survives.

Virulent threats

According to the revered monk Phra Paisal Visalo, the abbot of Wat Pa Sukhato in Chaiyaphum province, the major cause of global warming and other environmental problems stems from humans' detrimental attitudes towards nature.

''Humans fail to realise that they're part of nature. They can survive and maintain their race throughout the passage of time, simply because of nature's mercy and hospitality. Humans should be grateful to nature,'' suggested the monk who has devoted his life to protecting the forest in Chaiyaphum.

''Humans think that they're the master. What we commonly see in this technological-driven era is humans trying to control nature and overly, irresponsibly, and unmindfully exploit it,'' Phra Paisal added.

According to the monk, the incessant exploitation of nature happens because humans think that real happiness comes from the ability to possess a large number of material things, but they are still not gratified.

''They think that the more they have, the happier they are.

Their success in life can be measured from the number and kind of cars they own and the price of the house, land, and other possessions they have, including money in their bank account.

"With this attitude, people highly compete to consume and possess more, with consumerism as the stimulator and the capitalism as the supporter," he said.

Is our greed unquenchable?

Human greed has never been fulfilled because people still want more and more, resulting in the ceaseless destruction of nature in order to pamper their luxurious and wasteful life.

Yet, their happiness has never increased in line with their material wealth, which can be seen in the high rate of suicides and patients with mental disorders and neurosis.

"Such attitudes and consequent behaviours make people ignore and estrange themselves from nature. They are even estranged from themselves. They immerse themselves in many unnecessary activities like talking on the phone almost all the time, shopping, and surfing the net. Everything they do contributes to the ruin of nature," said the monk.

It's no exaggeration to say that our natural environment is in crisis because our interior nature is out of balance. Deep down inside people feel alone, depressed and hopeless. That is why they are trying to indulge themselves with material things.

"No matter how they succeed in transforming nature into a wide variety of consumer goods, assets, and money, humans can't be full and their soul is still empty," stressed the monk.

A cure for our mental imbalance

The monk pointed out that the natural environment can't be restored to its healthy state as long as humans' internal nature is still unstable. The elixir that can bring a balanced mind back to all souls during this crisis is "dharma medicine", specially concocted by Lord Buddha. "Dharma is indispensable during this time. In fact, nature and dharma are inseparable. Before restoring nature, we should restore dharma back to our mind first. People must be aware of the fact that we're a part of nature. Our survival totally depends on the survival of nature," Phra Paisal said.

Apart from curing our soul's sickness, dharma also provides us with many precious lessons on sustainability, self-sufficiency, loving compassion and spiritual happiness, he added.

"Nature teaches humans to enjoy a simple life and encourages them to embrace happiness, which derives from peace of mind, making merit, helping others, and being at one with nature."

The monk went on to say that any souls that seek mental tranquility and adopt dharma as their guide will be lighter, calmer, freer and happier.

"This type of mind will be ready to wholeheartedly protect and save nature. It's a mind that won't take advantage of nature, people, community and society. It's a mind that can return serenity and peace to the world," said the abbot.

A simple yet noble happiness

In this era of consumerism, humans greedily hunt for material happiness and along the way they fail to expose themselves to a more noble happiness. When people start controlling and reducing their desires, material happiness becomes less attractive.

"Happiness occurs easily when humans feel enough. And when that happens it's no longer necessary to exploit nature."

Everything in nature teaches lessons about dharma and the truth of life, but only if we open our eyes and attentively listen to it.

According to Phra Paisal, those with an agitated mind will be calmer when surrounded by nature. Their heart will easily fill with goodwill and when they look deeply into their mind, they can cultivate mindfulness, concentration and spiritual wisdom.

The open-minded can learn several chapters of dharma from nature, whether it be the impermanence of life or the well-knitted connection of all lives. Nature also teaches us the lessons of morality and dedication, from the generous trees that provide shade and shelter to animals, the ants that are diligent and persevere to build their kingdom, and the birds that fly happily with no material burdens.

"Nature is the greatest while we're just a tiny life form. Nature teaches us to be humble and understand our real status. We're just a small part of it. When we feel humble, we will not be arrogant and we will get closer to nature."

How grass and a rock teach dharma

All life is inseparable and nature always can teach us several lessons of dharma if only we open our eyes, pay attention and listen.

Phra Paisal recalled that someone once asked Luang Pu Mun (one of the most venerable monks) how he learned so much about dharma, since he didn't study much. The senior monk answered that "for those who have wisdom, dharma can be found in every nook and cranny". Meanwhile, a reformist monk named Bhuddhadasa Bhikkhu always suggested that visitors to his forest hermitage Suan Mokka (Garden of Release) learn how to listen to the trees and rocks that teach dharma all the time.

"Those who hope for mental prosperity should set aside time to be in nature. With our humble mind, we will see both dharma and our inner nature which lead to the understanding of the truth of life.

"Several revered monks became enlightened because of nature. When they see a falling leaf or a wrinkled lotus, they realise that their time in this world is limited. This is a wisdom derived from exposure to nature."

Nature has been giving for so long, while humans have been taking. It is now time for all of us to take care of our generous provider.

"As nature is in great peril, we should not take advantage of her ... humans should be generous and grateful to nature by fully safeguarding it, whether through reforestation, recycling, protecting wildlife, and raising awareness of environmental problems," Phra Paisal said.

Global warming vs dharma cooling

Natural conservation work is somewhat time-consuming and it is an uphill battle as long as there are selfish people who show no respect for nature. The monk encouraged everyone, nature lovers in particular, to be patient.

"We should not be disheartened or feel uncomfortable. If we understand that protecting nature is like practicing dharma, we will feel more peaceful.

"While the world's temperature is soaring, we should not be frustrated. If we protect nature with our suffering, everything will turn out to be harmful to ourselves. We should not be hotter like our world. With a calm and cool mind, we can create good things for the Earth," the monk emphasized.

By Chompoo Trakullertsathien

Can Buddhist principles help cure the climate crisis?

We live in an age where truth has become an illusion of sorts with both sides of an argument able to cite sources that back their own individualistic claims, but if we look at humanity as a singular whole, then the entire spectrum of thought becomes a circular view of which we are all a part.

There is no doubt that our environment is on the brink of catastrophe; no longer can the living ecosystems on the planet absorb the dualistic trends that have come to define the modern world. We must change either the way we treat the planet or our own individual inner states. A Buddhist approach makes the claim the two are mirror images, reflections of each other.

There have been several articles recently trying to address the reasons humanity is reluctant to embrace the problems developing from our lifestyles of greed and overconsumption. One such argument makes the case that human nature since the beginning of time has dealt with these two conditions. The article concludes with the suggestion that investors can profit off of a transition to a more peaceful state of existence, but it does a fine job of opening up the discussion of human nature in relation to the climate, environment, and energy crisis we are currently facing. No one ever said that a sustainable future is deviod of a vibrant economy.

Particlular Buddhist principles outline that greed and overconsumption arise from an imbalance within the human mind. Here in the Western world, society dictates that we 'juice up' on caffeine or other natural stimulants in order to keep up with our daily responsibilities, and then usually at the end of the day we need an alcoholic drink or a smoke in order to slow down and relax. Every day, rain or shine, we repeat this pattern. 24/7/365 we harvest resources to sustain our civilization.

Walking in nature provides a contrary view to the reality that most of us live through every day. In nature processes unfold more slowly; actions are more deliberate; interdependence is a necessity. Society has spent countless years and innumerable dollars to remove humanity from nature, and the linear experiment has seemingly transformed the human being from a creature that came from and is dependent upon nature to an animal that tries to control and exploit it at the peril of our own species.

The climate and environmental crisis we are facing is providing humanity an opportunity to see another role for our species to fill; that is, one of stewardship and sustainability. Humans should offer more gratitude to nature for all that it provides; our actions should show this gratitude by making sacrifices of some of the things that make us feel 'comfortable'.

Do we need to all live in caves and work by candlelight, like critics of the simpler-life argument claim? Of course not. What we need to do is begin addressing the the issues that are causing our insatiable greed leading to overconsumption of the world's resources. The thought that more stuff creates happiness is an illusion; observe people with money and you will most probably find that they have the same problems that people living in poor neighborhoods have. Money does not calm inner turmoil.

Capitalism is the tool we are using to fuel our competitive lifestyles; we need bigger cars, nicer houses, larger TVs, newer handheld gadgets, and prettier kids than our neighbors. It seems as though, as a society, we are never satisfied with our present condition. I have never been more happy than under my tarp in the forest next to a stream; of course, I love my cheeseburger and beer when I return from these trips, but something happens within my mind to my inner state on these trips into the wilderness that I try to infuse into my life in the modern world.

It is not that we have to give up our amenities that we have come to love so much; rather, we simply need to bring into balance our inner demands with our environmental limits. We need to balance our wants with our needs.

Without first acknowledging that part of the human condition is the fact that our desires can never be fully fulfilled, we will collectively continue to fill the void with products manufactured from nature. We can see in America how people fortunate enough to buy one vacation house in addition to their regular residence are never really satisfied; many of them proceed to buy more houses and fill them with 'goodies' until they own eight or nine or ten of them. This idea that seven billion people can all own more than they need, and that the planet has the capacity to fulfill these desires is truly, common sense tell us so, unsustainable.

The number of pharmaceutical pills that the older generations are currently taking is testament to the fact that even our modern life with all of its creature comforts isn't enough to fill the void created by our desires. We are addicted to our own mental constructs of 'want' when we should be filling ourselves up with what we need.

In the western world, we have even begun to pass down our addiction of wanting more to our children; young people on medication that is ultimately geared to numb ourselves to our deteriorating condition, or the growing number of obese children in America shows a tangible, visual example of this problem.

We certainly try to transform the world's resources into products that make us feel full; products and experiences that fill our soul with awe and make us say 'Wow!', but I have only found that natural landscapes and living beings are capable of producing a level of beauty that inspire us to walk within balance on land. A first generation iPhone simply makes us want the 3G version.

We will remain forever locked in a cycle of suffering as a society while we depend upon shopping malls and infomercials to provide our happiness. True happiness comes from caring for something with all of your being and having that living being flourish from your efforts. Destruction and degradation only brings about more suffering. Compassion is the fertilizer for life.

To simply state that our survival depends upon the survival of nature is not working because the planet is so large while the human perspective is so small. Those most responsible for climate change and environmental degradation have built castles that shelter them from the most damaging effects (they also have the luxury of moving from one affected region to one not in full crisis mode, to their second, third, or fourth home). We need to find a way to feel full with what we need and let go of what we want. The Rolling Stones get it! (Is there anything better than Rock&Roll Buddhism).

According to Buddhist dharma, "Nature teaches humans to enjoy a simple life and encourages them to embrace happiness, which derives from peace of mind, making merit, helping others, and being at one with nature". I simply do not see happiness, peace of mind, or people helping others in the protests against climate change and environmental protection. To be frank, the anger and vitriolic language used by protesters is frightening and contrary what all Americans seek. I see selfish attachment to a dying philosophy of economics, one that takes from the earth everything that it wants and leaves a scarred, dying landscape for future generations.

A mind that has evolved through dharma practice is ready, willing, and able to protect life at all levels. To this type of person, violence against nature is as much of a crime as violence against another human being. This type of mind is geared to feel compassion for others, compassion for animals, compassion for plants, heck even compassion for mountains. These people dedicate their lives to protecting those things that are truly valuable and sustain life for future generations.

We can achieve serenity and peace within ourselves and then bring that state to our public discussions and economic activity. We are evolving past the destructive tendencies of the twentieth century; but we are in the midst of a struggle of epic proportions to bring about that change. This movement is as natural as the water fresh off the Divide or the blood in our veins; it is born from the grasses and trees and the hairs on our heads.

When we think of the times that we have felt happy in our lives, we find that those times are when we have felt full; so full that sometimes it leaks from our eyes or tries to escape through our pores giving us goosebumps. The way the wind moves through the grass; the colors in the sky during a cosmic sunset; kids blowing bubbles in the backyard; watching the Milky Way mist drift across the night sky. This is spiritual happiness. Material happiness pales in comparison to the happiness given to us by nature because our things are essentially empty. The nicest castle without compassion as its foundation becomes a dungeon, full of torturous screams that echo within the inner soul.

By allowing the destruction of nature to continue, we are allowing the destruction of our soul and spirit. The greatest writers and scientists of the past have all used nature as their inspiration. Without vibrant natural communities, we are creating a destiny for our species devoid of human creativity, filled with so much inner turmoil that we are only left with war, greed, apathy, and hunger in our world.

To go about life collecting material possessions and cataloguing them within our homes and businesses neglects the one fundamental truth of life, that is, life is impermanent. To attach ourselves to a materialistic culture goes against the very nature of our own lives; none of this stuff can come with us afterwards; the best gift we can leave behind is a vibrant natural world, free from pollution and teeming with life.

To stand in an old growth forest, or swim through a healthy coral reef, or see a herd of elk file over a mountain pass teaches us humility that we can then bring back to our executive boardrooms. With these new eyes trained in compassion and humility, we are then able to execute business strategies that align our deepest desires for happiness with our desires for materialistic goods.

Human society IS out of balance; there is no question of that. The question is whether we can achieve something beyond the suffering that wanting creates. Do we have the courage to create a sustainable world?

Put down the coffee, cigarettes, alcohol, prescription pills, Blackberries, iPhones, video games, and laptops for a few hours every day and sit in the grass and listen to wind and watch the clouds. Interrogate the landscape and sky. Ask questions to the natural world and wait for a response. Tell a tree how much you value its existence, or pat a rock on the back and say 'good job'.

The planet simply can not afford seven million people all going full throttle accumulating material possessions 24/7/365. The Western world is waking up to the fact that nature will continue to give us everything we need, but if we continue taking everything we want it will die.

To protect nature comes from the same instinct built in us to protect our own children.

The heated rhetoric being spewed by people yet unwilling to acknowledge the severity of the problem facing humanity is simply an outward reflection of their inner state. Our minds have become so cluttered with materialistic goods that our species has begun to lose our connection to the natural world; this is what is allowing us to dance along the edge of destruction and say 'not yet' to the increasingly desparate claims for humanity to take responsibility for its actions.

We live in the present; the dharma is here; if it works, we should use it to help solve our problems.

By John Guerrerio

Tuesday, July 7, 2009

Phật giáo và Khoa học


Phúc Lâm - Tủ Sách Đạo Phật Ngày Nay
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội 2009
MỤC LỤC

Chương 1: Lời giới thiệu & Lời Nói Đầu
Chương 2: Dẫn nhập

Phần 1: Con Người và Vũ Trụ
Chương 3: (I) Vài huyền thoại cổ xưa
Chương 4: (II) Nguồn gốc vũ trụ: Thuyết “Big Bang”
Chương 5: (III) Nguồn gốc con người: Thuyết “Tiến hoá”
Phần 2: Phật Giáo và Khoa Học
Chương 6: (I) Phật giáo và sự tiến hoá
Chương 7: (II) Phật giáo và khoa học
Chương 8: (III) Phật giáo và cuộc cách mạng khoa học
Chương 9: (IV) Những đặc tính khoa học trong Phật giáo
Chương 10: (V) Phật giáo và vũ trụ học
Chương 11: (VI) Phật giáo và khuôn mẫu
Chương 12: (VII) Phật giáo và thuyết Tương đối

LỜI GIỚI THIỆU

Tác phẩm Phật Giáo và Khoa Học của giáo sư Phúc Lâm là một trong số ít các tác phẩm về thể tài phân tích Phật giáo dưới cái nhìn của khoa học. Trên thực tế, tác phẩm này là một tuyển tập các bài viết về con người và vũ trụ cũng như những điểm tương đồng giữa Phật giáo và khoa học.

Về nguồn gốc con người và vũ trụ, tác giả đã phủ định các học thuyết sai lầm về nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ dưới nhiều tên gọi như Thượng Đế, Chúa Trời, Phạm Thiên hay Thần Linh, lại càng không phải thực tại đất, nước, gió, lửa như triết học cổ đại Hy Lạp đã chủ trương. Các huyền thoại cổ xưa về con người và vũ trụ đều không dựa trên các sự kiện khoa học, chúng có mặt như phản ứng trước nỗi sợ hãi, lúc thường trực, khi tiềm ẩn, cộng với vô minh nên không hiểu được nguồn gốc tương thuộc của mọi sự vật hiện tượng trong thiên nhiên. Nếu huyền thoại là các câu chuyện tưởng tượng thiếu khoa học trong nỗ lực giải thích con người và vũ trụ thì nền tảng chân lý của nó là niềm tin mù quáng. Trong khi dựa trên học thuyết duyên khởi, tác giả đã chứng minh các học thuyết khoa học trong đạo Phật đã được kiểm chứng, phù hợp với những sự kiện trong thế giới hiện thực.

Nếu chân lý của huyền thoại ai không tin thì được xem là có tội theo cái nhìn của Thần học, thì nhãn quan duyên khởi là cơ sở hình thành, tồn tại và phát triển của một sự vật chính là quy luật bất biến. Huyền thoại sáng tạo của Ấn Độ cho rằng Phạm Thiên là nguyên nhân của vũ trụ, làï năng lực tiên khởi bất khả tư nghị tạo ra giai cấp và nhiều bất công thì huyền thoại sáng tạo của dân Eskimo, con quạ là đấng toàn năng, nguyên nhân khởi thủy của mọi thứ. Huyền thoại sáng tạo của Ba Tư cho rằng Thần Ohrmatzd là đấng tiên hữu tạo ra tâm linh trước vật chất, với vũ trụ có hình quả trứng, trái đất là một cái dĩa dẹp. Huyền thoại Kitô có nguồn gốc Do Thái trong kinh thánh Cựu Ước cho rằng thần Kitô tạo ra vũ trụ và con người trong vòng 6 ngày. Đây là quan niệm về một thế giới bất biến làm ảnh hưởng tiêu cực và trì hoãn tiến trình khám phá khoa học của phương Tây.

Nhờ sự ra đời của học thuyết Tiến hóa và học thuyết Big Bang, các học thuyết huyền thoại sáng thế đã không còn chỗ đứng vững, mở cửa cho các kiến thức so sánh về đạo Phật và khoa học được phát triển.

Theo tác giả, phương Tây càng hiện đại về khoa học bao nhiêu thì sự ảnh hưởng hai chiều giữa khoa học và Phật giáo càng được thể hiện bấy nhiêu. Điểm chung nhất giữa Phật giáo và khoa học là không thừa nhận đấng sáng thế tạo dựng mọi vật, không cho rằng mặc khải là chân lý. Tác giả không có tham vọng dùng khoa học như một công cụ biện minh Phật học. Tác giả lại càng không có dụng ý chứng minh Phật giáo là khoa học. Từ cái nhìn phân tích so sánh của một người làm công tác và giảng dạy khoa học, tác giả cho chúng ta thấy khoa học là một phương diện đặc biệt của Phật giáo chứ không phải là tất cả.

Quan niệm về vũ trụ luận trong kinh Hoa Nghiêm cũng có những điểm tương đồng với học thuyết của khoa học gia Bruno khi cho rằng trong vũ trụ có vô số thế giới chứa đựng vô số dạng thù sự sống. Thuyết duyên khởi của Phật giáo một mặt phủ định các học thuyết nhất nguyên về vũ trụ, mặt khác làm tiền đề cho học thuyết tiến hóa. Sự vận hành của vũ trụ theo Phật giáo chính là nguyên lý duyên khởi và vô thường. Cái gì duyên khởi thì cái đó vô thường. Cái gì vô thường thì cái đó không phải là một thực hữu. Cái gì không thực hữu thì không phải là một thực tại bất biến. Tính cách phi thực hữu trong một thực tại được hiểu theo đạo Phật là vô ngã về phương diện vật lý. Nói cách khác, do vô thường nên không có một thực tại nào là hữu ngã. Do vô ngã nên không có một thực tại nào là thường hằng.

Dựa vào kinh Nền tảng đức tin (Kalama), tác giả đã dẫn chứng, phân tích, và khẳng định khái niệm “niềm tin” (Saddha) trong Phật giáo là một niềm tin khoa học theo nghĩa tư duy logic, không lệ thuộc sự mặc khải.

Niềm tin lý trí đó có khả năng “đập đổ nền độc tài tôn giáo”, đồng thời giúp người có lý trí “thoát ra khỏi sự nô lệ tôn giáo mê tín”. Về phương diện thời gian, đạo Phật khẳng định không có sự bắt đầu, do đó tiến trình phát triển của nó không có sự kết thúc. Mọi vấn nạn nhằm thỏa mãn tri thức như vũ trụ là hữu hạn hay vô hạn, thế giới là thường còn hay bất biến, con người chết đi về đâu, đôi lúc đức Phật giữ thái độ im lặng khi biết người hỏi với mục đích hý luận vô ích; đôi lúc trả lời, giúp người hỏi thoát khỏi các vướng mắc viễn vông.

Quan niệm vũ trụ của Phật giáo cho rằng thế giới chúng ta đang sống chỉ là một trong vô số các thế giới hiện có. Do vậy quả địa cầu này không phải là trung tâm của vũ trụ. Thế giới được phân thành ba loại: Tiểu Thiên thế giới (1.000 kiếp), Trung Thiên thế giới (1.000.000 kiếp) và Đại Thiên thế giới (1.000.000.000 kiếp). Một Tiểu Thiên thế giới được quan niệm như một thiên hà có hàng trăm ngàn ngôi sao và có sự sống của sinh vật. Một Trung Thiên thế giới cũng giống như một chùm thiên hà. Một Đại Thiên thế giới cũng giống như một siêu thiên hà.

Nếu một Thái Dương Hệ được hiểu như một thế giới, thì quan niệm vũ trụ của Phật giáo có vô số Thái Dương Hệ, tương tợ như Thái Dương Hệ mà chúng ta đang trực thuộc. Thời gian tồn tại của 1 tiểu kiếp hành tinh trung bình là 16.800.000 năm, trung kiếp là 336.000.000 năm và đại kiếp là 1.344.000.000 năm. Nếu theo khoa học, khối lượng của một thế giới càng nặng thì kiếp sống của nó càng ngắn (tỉ lệ nghịch). Điều này rất phù hợp với tinh thần Phật giáo, cho rằng có thế giới tồn tại một kiếp, hai kiếp cũng như có thế giới tồn tại nhiều số kiếp. Điều đó tùy thuộc vào khối lượng của các vì sao.

Tác giả còn so sánh Phật giáo và “khuôn mẫu toàn ký” trong khoa học, theo đó chứng minh rằng mọi vật trong thế giới chỉ là các chuỗi hình ảnh không thực thể. Các khám phá của nhà vật lý học David Bohm về sự tương tác của các hạt nhỏ trong ngành vật lý tiềm nguyên tử có những điểm tương đồng với học thuyết Sát na và tối hậu cực nhỏ (siêu tiểu) trong tự thân của mỗi sự vật.

Theo tác giả, thuyết khuôn mẫu toàn ký không phải là học thuyết đặc thù duy nhất mà trong Phật giáo các học thuyết tương duyên và tương thích theo công thức một là tất cả, tất cả là một đã có hơn 26 thế kỷ trước. Kỹ thuật tạo hình ảnh của toàn ký trên thực tế là do ánh sáng khuếch đại và do bức xạ kích thích, được tách làm các tia riêng biệt, dội ngược và tạo thành mô thức giao thoa trên tấm phim ảnh. Nếu dùng mắt để nhìn, thì sự vật không phải là sự vật. Khi chiếu tấm phim toàn ký bằng một tia laser hoặc một tia ánh sáng tương thích thì hình ảnh của sự vật sẽ được hiển hiện. Đó chính là điều Bát Nhã Tâm Kinh gọi là “sắc chẳng khác không, sắc chính là không”. Phật giáo và khoa học lượng tử thống nhất khi cho rằng không nên phân tích thế giới và chia chẻ thực tại thành các mảnh riêng biệt độc lập, vì thế giới là tương tích và tương dung.

Khi so sánh Phật giáo với thuyết tương đối của Einstein, tác giả nhấn mạnh đến thuyết tương đối hẹp như sự thể hiện khác của các thực thể vật chất lệ thuộc vào sự chủ quan của việc quán sát nhưng đồng thời thể hiện sự bất biến của các thực thể vật chất. Trong tự thân của nó, sự thay đổi của không gian và thời gian lệ thuộc vào hệ quy chiếu của người quan sát, theo đó sự thay đổi về quan niệm chỉ là sự tương đối trong khi thực thể của sự vật không có sự thay đổi tuyệt đối. Quan niệm tương đối trên được thể hiện trong học thuyết Bất Nhất và Bất Nhị của Phật giáo, theo đó một sự vật được quan niệm dưới nhiều gốc độ không thể là đồng nhất (Bất Nhất) nhưng đồng thời dù dưới gốc độ quan sát nào thì sự vật trong chính nó không phải là sự vật quan sát chủ quan hay nói gọn hơn nó như thế là như thế (Bất Nhị).

Tác giả phân tích phạm vi của thuyết tương đối trong khoa học là thế giới vật chất, trong khi thuyết tương đối của Phật giáo còn áp dụng cả tâm thức của con người. Đây chính là điểm sâu sắc của Phật giáo so với khoa học.

Khi so sánh Phật giáo và khoa học, điều quan trọng hơn hết sẽ là một sai lầm nếu ta cho rằng khoa học là thước đo chân lý duy nhất của mọi thực tại. Từ cái nhìn tuệ giác của đạo Phật, tất cả các lý thuyết khoa học không bao giờ có sự kết thúc. Khi kiến thức càng được tăng trưởng mà đỉnh cao nhất của nó là trí tuệ thì mọi giả định và kết quả của khoa học có thể được thay đổi và cập nhật. Trong khi các triết lý Phật giáo trong sự so sánh với khoa học không nhằm hướng đến cứu kính của thực tại mà nhằm phục vụ các giá trị thiết thực cho nhân sinh.

Nắm được điểm khác biệt căn bản này, cuộc hành trình khám phá Phật giáo và khoa học không chỉ là một điều kỳ thú mà còn có giá trị nhân bản và tâm linh.

Giác Ngộ, ngày 13 tháng 05 năm 2009

Thích Nhật Từ
Phó viện trưởng HVPGVN tại TP.HCM



LỜI NÓI ĐẦU

Con người và vũ trụ là hai chủ đề rộng lớn, quá rộng lớn. Phật Giáo và khoa học cũng là hai chủ đề rộng lớn, quá rộng lớn. Cho nên tôi phải thú thực với độc giả là không có cách nào tôi có thể trình bày đầy đủ 4 chủ đề trên trong cuốn sách nhỏ này. Có hai lý do.

Thứ nhất, tôi không thể biết hết những gì thuộc bất cứ chủ đề nào trong 4 chủ đề trên, và có lẽ không ai trên thế gian này có thể biết hết những điều đã được khám phá ra trong mỗi chủ đề, khoan nói đến chuyện những điều chưa được khám phá ra. Trang Tử đã chẳng nói: "Cái biết của thiên hạ thì vô hạn, cái biết của cá nhân thì hữu hạn, mang cái hữu hạn đi tìm cái vô hạn, nguy vậy thay!" hay sao? Và Thomas H. Huxley cũng đã chẳng nói: "Những gì mà chúng ta biết thì hữu hạn, những gì mà chúng ta không biết thì vô hạn." (The known is finite, the unknown is infinite)?

Thứ nhì, ngay với những điều tôi biết trong mỗi chủ đề mà tôi biết chắc còn thiếu sót rất nhiều, cũng không thể trình bày trong đầy đủ một cuốn sách. Vì vậy, trong cuốn sách này, tôi xin tự hạn trong một số tiểu đề mà tôi cho là những điều mà con người hiện đại không thể thiếu sót trong bộ kiến thức của mình, nhất là đối với người Việt Nam chúng ta trên con đường mở mang dân trí, cập nhật hóa một số kiến thức trong đó có những điều thuộc loại cấm kỵ trước đây dưới chế độ thực dân trên toàn quốc, và dưới chế độ độc tài tôn giáo trị ở miền Nam trước đây.

Cuốn sách này gồm có 2 phần: Phần I: Con Người & Vũ Trụ, và Phần II: Phật Giáo & Khoa học.

Trong Phần I tôi sẽ tự hạn trong 2 tiểu đề: Nguồn Gốc Vũ Trụ và Nguồn Gốc Con Người, cố gắng cập nhật hóa những kiến thức mới nhất và có tính cách thuyết phục nhất về hai chủ đề này. Trong Phần II, tôi chú trọng đến Phật Giáo, có thể nói là tôn giáo của Dân Tộc Việt Nam, và vì Phật Giáo là một tôn giáo lớn: Lớn về tư tưởng, triết lý, luân lý, đạo đức, cộng với những đặc tính Từ Bi, Hòa Bình, Vị Tha, Nhân Bản, Nhân Chủ v..v.. chứ không phải lớn vì có số tín đồ đông đảo nhất thế giới. Lớn vì Phật Giáo chưa từng cưỡng ép bất cứ ai phải tin vào Phật Giáo, khoan nói đến chuyện bách hại những người có tín ngưỡng khác, và lớn vì trong suốt hơn 2500 năm lịch sử, Phật Giáo chưa từng vấy một giọt máu của đồng loại trong quá trình phát triển.

Phần Tài Liệu Tham Khảo Chọn Lọc cuối sách có thể giúp độc giả tìm hiểu thêm chi tiết về những vấn đề tôi trình bày trong cuốn sách này.

Tuesday, June 9, 2009

Khoa học & Phật Giáo



Trần Chung Ngọc

Cách đây 18 năm, Fritjof Capra xuất bản cuốn "Đạo của Vật Lý" (The Tao of Physics). Cuốn này tức thời nổi tiếng, cả hai giới khoa học và bình dân đều tán thưởng cuốn sách này. Phản ứng trên thật ra cũng dễ hiểu, vì có thể nói đây là lần đầu tiên một vật lý gia đã viết một cách bình dân dễ hiểu để đưa ra và so sánh khá nhiều những sự giống nhau giữa những quan niệm mới của khoa vật-Lý-học các hạt nhỏ và triết lý tôn giáo Đông phương, đặc biệt nhất là Đạo Phật. Sau đó Gary Zukav xuất bản cuốn "Các Thầy Vật lý nhảy múa" ( The Dancing of Wu-Li Master ), và Micheal Talbot, cuốn "Huyền Nhiệm Học và Vật-Lý mới" ( Mysticism and the New Physics ). Hai cuốn nầy viết theo đường hướng giống như của Capra nhưng không có gì đặc biệt hơn, và cũng không nổi tiếng bằng cuốn " The Tao of Physics ".

Có một điểm chung trong cả ba cuốn sách nêu trên : muốn giải thích một số hiện tượng trong ngành Vật-Lý các hạt nhỏ mức năng lượng cao (high energy particle physics), các khoa học gia phải nhờ vào những quan niệm xa xưa của các tôn giáo Đông Phương, nhất là Đạo Phật. Nói cách khác, triết lý Phật-Giáo đã giúp các khoa học gia giải quyết được một số khó khăn trong ngành vật-lý mới. Trong khi đó, gần đây, một số Phật-tử, có lẽ có mặc cảm trước những hào quang tiến bộ của khoa học vật chất, lại theo con đường ngược lại, tìm cách dùng khoa học để "chứng minh" một số quan niệm trong Phật Giáo, cho rằng như vậy là để làm tăng uy tín của Phật Giáo. Tôi cho rằng đấy là một hành động ngược chiều.

Trong bài nầy tôi sẽ cố gắng trình bày để các đọc giả thấy rõ phần nào một sự thực : những căn bản, phương pháp khảo cứu khoa học, những tiêu chuẩn khảo cứu trong khoa học thực nghiệm v.v.. đều có thể tìm thấy trong những kinh điển Phật Giáo, chưa kể tới một số thành quả trong khoa học tân tiến ngày nay chẳng qua cũng chỉ là khám phá lại những điều mà đức Phật và các đệ tử truyền thừa đã khám phá ra từ hơn 2000 năm về trước. Nhưng trước hết, có lẽ chúng ta cũng nên duyệt qua vài nhận định về Phật Giáo và Khoa-Học của một số người có tên tuổi trong cộng đồng quốc tế.

1. Albert Einstein, nhà khoa-học nổi tiếng nhất thế kỷ 20 về thuyết tương đối trong vật-lý, đã phát biểu như sau : "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu được với những nhu cầu khoa học tân tiến thì đó là Phật Giáo." (If there is any religion that would cope with modern scientific needs it would be Buddhism).

2. Sir Edwin Arnold, người nổi tiếng về cuốn thơ "Ánh Sáng Á Châu" ( The Light of Asia ), khẳng định rằng: "Tôi thường nói, và tôi sẽ còn nói hoài, là giữa Phật Giáo và khoa-học tân tiến có một mối ràng buộc trí thức gần gũi." (I have often said, and I shall say again and again, that between Buddhism and modern Science there exists a close intellectual bond.)

3. Bertrand Russell, nhà triết-học và toán-học nổi tiếng hoàn cầu, trong cuốn "Lịch Sử Triết Học Tây Phương" (History of Western Philosophy ) đã viết: "..Phật-Giáo là một tổ hợp của triết lý suy cứu và triết lý khoa học. Phật giáo ủng hộ phương pháp khoa học và theo phương pháp này để tới một cứu cánh có thể gọi là thuần lý. Phật giáo còn đi xa hơn khoa học vì khoa học bị giới hạn bởi những dụng cụ vật lý." (... Buddhism is a combination of both speculative and scientific philosophy. It advocates the Scientific Method and pursues that to a finality that may be called rationalistic...It takes up where science cannot lead because of the limitations of the latter’s physical instruments.)

4. Tiến sĩ Radhakrishnan: "Nếu Phật Giáo hấp dẫn đối với trí óc tân tiến đó là vì Phật Giáo có tinh thần khoa học, thực nghiệm, chứ không phải là dựa trên bất cứ giáo điều nào" (If Buddhism appealed to the modern mind because it was scientific, empirical and not based on any dogma.)

5. Tiến sĩ Graham Howe, nhà Phân Tâm Học nổi tiếng của Anh Quốc đã nói như sau: "Đọc một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng, từ 2500 năm trước, Phật Giáo đã biết về những vấn đề mới về tâm lý nhiều hơn là chúng ta thường biết tới. Họ nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng. Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông Phương." (To read a little Buddhism is to realize that the Buddhists knew, 2500 years ago, far more about modern problems of Psychology than they have been given credit for. They studied these problems long ago and found the answers also. We are now rediscovering the ancient wisdom of the East.)

Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao những nhân vật nổi danh trên, và nhiều nhân vật khác nữa mà tôi không thể kể hết ra đây, lại đưa ra những nhận định như vậy.

A) Chúng ta biết rằng đối tượng khảo sát của khoa vật-lý-học là vật chất. Khi khảo sát vật chất, các khoa học gia thường dùng năm giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân để biết về những đối tượng của giác quan như hình tướng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác qua sự tiếp xúc, và những thứ còn lưu lại trong ý thức. Ngoài ra những khảo sát khoa học thường được đặt trong những khái niệm về thời gian, phương hướng, vận tốc di chuyển, thứ tự, và số lượng, cộng với những dụng cụ đo lường do con người phát minh để đáp ứng những nhu cầu khảo sát. Nếu chúng ta biết về Duy-Thức-Học trong Phật Giáo thì chúng ta thấy rằng các khoa học gia chỉ dùng có 16 phần trăm của số 100 Pháp được phân loại thành 8 Tâm Pháp, 51 Tâm-Sở-Hữu Pháp, 11 Sắc Pháp, 24 Tâm-Bất-Tương-Ưng Hành Pháp, và 6 Vô-Vi Pháp (Xin đọc Đại-Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận), nghĩa là các khoa-học-gia chỉ sử dụng tới 11 Sắc Pháp trong đó có năm căn là nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, và thân căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân thể); và 6 trần là sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, và Pháp trần (hình tướng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác do tiếp xúc, và bóng dáng của 5 trần trên còn lưu lại trong ý thức khi các căn không còn tiếp xúc trực tiếp với trần nữa), cộng với 5 tâm pháp trong số 21 tâm-bất-tương-ưng hành pháp là thời gian, phương hướng, vận tốc di chuyển, số lượng, và thứ tự ( thời, phương, thế tốc, số, và thứ đệ). Ở đây tôi không có ý định đi sâu vào thiên luận 100 Pháp đại thừa mà chỉ muốn nói lên điểm cốt yếu như sau: khi mà khoa học không thể tiến hơn được nữa vì những giới hạn tự tại của 5 căn và 6 trần và của những dụng cụ đo lường thì Phật Giáo vẫn tiếp tục đi xa hơn, bởi lẽ Phật pháp, ngoài sự khảo sát những đối tượng vật chất còn chú trọng nhiều đến những vấn đề tâm linh, cho nên đã vượt qua, đi ra ngoài những giới hạn vật lý của khoa-học. Do đó chúng ta có thể nói Phật-Giáo là một Siêu-Khoa-Học (Super-science) được thành lập trên căn bản trí tuệ Bát-Nhã (trí tuệ nhận thức được thực tướng của vạn Pháp). Trong Phật Giáo, Duy-Thức-Học cho chúng ta một hệ thống triết lý, phân tâm học rất đầy đủ và tiến bộ hơn bất cứ hệ thống nào trong khoa học hiện đại.

B) Nếu chúng ta đã quen với cách viết một bản phúc trình khoa học thì chúng ta thấy rằng, ngay ở phần đầu của bản phúc trình chúng ta phải liệt kê những điểm sau đây: tên người phụ trách chính và các phụ tá nếu có, thời gian và nơi làm thí nghiệm, đối tượng của thí nghiệm, những vật liệu và dụng cụ máy móc dùng để làm thí nghiệm, trước khi viết phần chính của bản phúc trình. Điều này hầu như là một mẫu mực chung trong giới khoa học.

Nay ta thử đi vào cấu trúc của các kinh điển Phật Giáo.
Tất cả kinh Phật đều được bắt đầu bằng một phần thông tự mà ngay đầu tiên là 6 điều tin chứng hay 6 điều thành tựu (lục-chủng-chứng-tín hay lục-chủng-thành-tựu): Tín, Văn, Thời, Chủ, Xứ, Chúng. Muốn hiểu rõ hơn chúng ta hãy lấy một thí dụ: Kinh Thủ-Lăng-Nghiêm. Kinh Lăng-Nghiêm bắt đầu bằng: "Tôi nghe như vậy, một thời nọ, Phật ở tại tịnh xá Kỳ-Hoàn, thành Thất La Phiệt, cùng 1250 đại Tỳ Khưu ..."

"Như vậy" biểu thị một khẳng định đáng tin (Tín), "Tôi nghe" biểu thị nguồn gốc của sự hiểu biết (Văn), "Một thời nọ" chỉ định thời gian tính (Thời), "Phật" chỉ Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, vị hóa chủ của đại chúng và là người thuyết Kinh (Chủ), "Tại..." chỉ nơi thuyết Kinh (Xứ), "Cùng với... " chỉ những người nghe Phật thuyết Kinh (Chúng). Như vậy, phần thông tự chứng tỏ tính chất xác thực của Kinh, và 6 điểm kể trên đã dự phần bố trí hệ thống của toàn Kinh và biện chứng để dẫn khởi lòng tin tưởng của người học Phật, cho nên được gọi là 6 điểm thành tựu. Cái tinh thần chính xác, rõ ràng, minh bạch của Kinh Phật cũng là cái tinh thần mà các khoa học gia ngày nay đòi hỏi phải hội đủ trong bất cứ một công cuộc thí nghiệm nào.

C) Đi thêm vào chi tiết, nếu chúng ta đọc cuốn huấn thị cho khoa học (Instruction Book of Science) chúng ta thấy phương pháp khảo cứu khoa-học được đặt trên một số tiêu chuẩn như sau :

1. Đối tượng của thí nghiệm (The objects of the experiment)
2. Vật liệu, dụng cụ cần thiết để làm thí nghiệm (The materials, instruments and tools necessary for the experiment)
3. Lý thuyết về thí nghiệm (The theory of the experiment)
4. Phương pháp và tiến trình thí nghiệm (Methods and steps to work out the experiment)
5. Kết quả thí nghiệm (Results of the experiment)
6. Những đều cần để ý và coi chừng khi làm thí nghiệm (Requisites for attention and precautions in working out the experiment)
7. Kết luận để kiểm chứng giá trị của lý thuyết và những kết quả thực dụng của nó (Conclusion to verify the validity of the theory and its practical results)

Đọc Kinh Lăng-Nghiêm , chúng ta thấy trong Kinh có những phần sau đây :

1. Nguyên nhân Phật thuyết Kinh (Phần Thông Tự)
2. Đối tượng của tu chơn tâm (7 thường trụ xứ của tâm)
3. Lý thuyết tu chơn tâm (chỉ rõ tính thấy, tóm thu 4 Khoa và 7 Đại về Như-Lai Tạng để phát khởi chỗ chơn-ngộ)
4. Phương pháp và các trình độ tu chứng (25 phương pháp viên thông và 7 Thánh vị).
5. Lợi ích của sự tu tập, đối với cá nhân và chúng sinh (Tuyên nói Tâm Chú, khai thị những lợi ích)
6. Những điều cần để ý và coi chừng khi tu tập (Khai thị chỗ hư vọng của 7 loài để khuyến khích tu hành chánh pháp và phân biệt Ấm ma)
7. Kết luận (Phần lưu thông, công đức trì Kinh, được Phúc, tiêu tội, trừ ma)
Chúng ta có thể thấy ngay những điểm giống nhau về phần cấu trúc của cuốn huấn thị về khoa học và của cuốn Kinh Phật.

Làm bảng so sánh trên, tôi không có ý định chứng tỏ Khoa Học và Phật Giáo giống nhau cả về hình thức lẫn nội dung, mà chỉ muốn tỏ rõ một điều: Kinh Phật được xếp đặt một cách rất khoa học. Điều này thật ra cũng dễ hiểu, vì những phương pháp tu tập trong Phật giáo và những phương pháp khảo cứu khoa học đều đặt trên những căn bản giống nhau :

1. Không để cho tình cảm chi phối.
2. Hoàn toàn khách quan.
3. Phân tách mọi vấn đề một cách có hệ thống.
4. Kết quả dựa trên thực nghiệm.

Ngoài ra Jeremy W. Hayward, một vật-lý-gia nổi tiếng về những thuyết trình của ông về Phật Giáo và tương quan của Phật Giáo với những truyền thống Tây Phương và khoa học, trong cuốn " Shifting Worlds, Changing Minds: Where the Sciences and Buddhism Meet " cũng đưa ra 4 tiêu chuẩn mà một hệ thống tín ngưỡng cần hội đủ để cho con người có thể chấp nhận với một tinh thần khoa học. Tôi không có ý định bàn luận về những tiêu chuẩn này nên không đi vào chi tiết, mà chỉ liệt kê sau đây 4 tiêu chuẩn của Hayward :

1. Ý thức được sự tương đối của các hệ thống tín ngưỡng và sự tương quan giữa "vũ trụ" và "tâm".
2. Có thể vạch rõ chi tiết về sự hiện hành của "tâm" và "thực tại", nghĩa là có thể đưa ra một lý thuyết duyên khởi về sự biểu hiện của những đối đãi nhị nguyên trong phạm trù nhất nguyên.
3. Có một kỹ thuật, phương pháp để thực chứng chân lý "không hai" này.
4. Nhưng cùng lúc không nằm ngoài vòng đối đãi nhị nguyên. Và, Hayward chứng tỏ rằng Phật Giáo đã hội đủ 4 tiêu chuẩn trên.

Chúng ta đã thấy, Khoa-học và Phật-Giáo có nhiều điểm giống nhau. Nhưng thực ra thì đó chỉ là giống nhau phần nào về phương diện hình thức, còn căn bản thì vẫn khác nhau, vì đối tượng của khoa học khác với đối tượng của Phật Giáo. Kiến thức khoa học là về thế giới bên ngoài, đặc biệt là thế giới vật chất, cho nên bị buộc trong không gian và thời gian. Trong khoa học, cho tới bây giờ, chân lý chưa đạt được, vì khoa học luôn luôn thay đổi để phù hợp với những hiểu biết mới của con người. Khoa học chỉ có thể cung cấp cho con người những dữ kiện tương đối. Trái lại, trong Phật Giáo, chân lý đã được thể hiện và có tính cách tuyệt đối, bởi vì Phật Giáo chú trọng đến cái "biết" bên trong do thực chứng. Phật Giáo đi thẳng tới chân lý tuyệt đối chứ không cần qua ngả các phát minh tương đối. Do đó, nhiều khoa-học-gia đã đồng ý rằng : Phật giáo bắt đầu nơi khoa học tận cùng (Buddhism begins where science ends.) Khoa học có thể cung cấp cho chúng ta những tiện nghi thoải mái vật chất và trí thức, nhưng không phải là chân lý, vì bản chất tương đối tự tại của khoa học. Chỉ khi nào con người tiếp xúc được với tuyệt đối và sống trong chân lý, khi đó con người mới có thể có được chân hạnh phúc, một thứ hạnh phúc vượt ra ngoài mọi đối đãi nhị nguyên. và đây chính là cứu cánh chung cùng của Phật Giáo.