Showing posts with label Tứ Diệu Đế. Show all posts
Showing posts with label Tứ Diệu Đế. Show all posts

Thursday, August 13, 2009

The 4 Noble Truths of Gardening

The heart is like a garden.

It can grow compassion or fear,
resentment or love.

What seeds will you plant there?

~The Buddha

Every human being has a basic nature of goodness, which is undiluted and unconfused. That goodness contains tremendous gentleness and appreciation. As human beings, we can make love. We can stroke someone with a gentle touch; we can kiss someone with gentle understanding. We can appreciate beauty. We can appreciate the best in the world. (Source: Shambhala: The Sacred Path of the Warrior)

My garden helps me do that—appreciate the beauty and goodness of the world—no matter what. No matter what is happening in me, around me, or in the world in general. It invites me to choose JOY. And Hotei blesses it all ...

As you can see by the open space next to him in the garden, I'm still planting. I've just selected a gorgeous dahlia—a white, lavender, and purple burst of happiness. It will look stunning there! Behind, and to the right, are daisies, coreopsis, and gayfeathers. Happy flowers to surround happy Hotei!

May we all continue to plant seeds of love and compassion. May we all scatter JOY.

From Jan- Awake is Good


The Buddhist Garden


Gardening from the Higher Perspective: The Open Temple of Buddha Nature

In most monastic settings the most important jobs are given to the least important people. Gardening is the personification of Buddhism in action:

* 1. The Soil represents the fertile ground of the Buddha Mind.
* 2. The Sangha is in the community of plants
* 3. The Dhamma as the expression of wisdom is the collective environment we call The Open Temple of Buddha Nature - The Garden.

The various practices of Buddhism are exemplified in our garden practice. The Buddha Nature that permeates all things is both still, being ever present, and also totally empty; void.

If we see the garden as the mind then:

* 1. Paths are represent the clear ways to enlightenment.
* 2. The condition of the soil represents the state of our Karma.
* 3. The plantings represent both fruitful and blossoming ideas, and perennial and dying concepts.
* 4. Seasons represent the fluctuations of the mind.


Peace and serenity are always associated with gardening and when we walk with intent (walking meditation) we should be aware of those on our journey who need our attention, whether self or other as personified in the garden.

Mindful weeding is attention with purpose and this will help us clear our own overgrown patches . . .

All monastic gardens are an expression of the innate wisdom of the community and visitors. What you see is a reflection of yourself.

We care for the garden through the practice of Mettaa - not just for others but for each plant and rock. If something is out of place we move it. If a plant cries out for attention, we give it - without fuss, without demand for reward. It is our sacred duty to give help before it is asked for and to demand no recompense.

For the gardens will grow, will develop in accordance with those who aid and care. What do we care for but our many Buddha selves in the environment of the garden?



The 4 Noble Truths of Gardening

1. All gardens need perfecting
Change, transition and evolution always exist in the garden. The imperfection moves towards a further impermanence that again needs attention.

2. The reason why
The cause of this continual dissatisfaction is the craving for a better environment. The desire for an unattainable goal, the creation of paradise or nirvana.

3. The way to improve
By understanding the nature of this constant turmoil and need for further evolvement we see a means of satisfaction and acceptance open up.

4. The means to improve
Understanding that perfection is unattainable but realisable, we implement the 8 fold path to come to terms with our own dissatisfaction, transforming our lives and being through the practice of gardening . . .


The 8 Fold Path of Gardening

Right Understanding
Practice is always through choice. Gardening is the intention to improve. Anyone who does not understand the necessity of gardening as a service to the community and ultimately to themselves needs to meditate (preferably whilst engaged in a task) on the nature of walls, obstacles, hedging etc. which are barriers to be overcome.

Right Mindedness
In gardening the internal mind dialogue is replaced by the external Buddha in Nature. By focusing on being attentive to gardening we are turning inside out the nature of mind. When we can garden without thought we are approaching our practice with Right Mindedness.

Right Communication
Speech is one form of communication. All expression and all manifestation talks to us and we respond. What we say in our mind to this, is our speech - if we do not like this we must change it. Right speech is then the attention to our thoughts expression. In gardening it is our communication with nature, our commitment to growth and improvement that shows that actions speak louder than words.

Right Action
Gardening is activity. The more active we are in gardening - the quieter our minds become. This is quite often the opposite of meditation where our body is still but there many be much mental activity. Action is not only what is done but more importantly how. Anything done with an aim of perfection becomes an expression of the best we are capable of.

Right Living
Gardening is an expression of both Samsara and nirvana. In its interplay exists the whole realms of experience. When we for a time work as gardeners, we are engaged in the Boddisattva Vow to relinquish our own good for all sentient beings down to each blade of grass.

Right Effort
Through choice we ask ourselves to do more than we want or think we are able or capable of. This is very important as time goes on we find ourselves doing more and more. Sitting meditation becomes easier through practice Similarly gardening tasks that seem less enjoyable become easier until all aspects of gardening are seen in a non differential way.

Right Attentiveness
A distracted mind is destructive to the individual. An attentive and open mind, gives attention to being and action. This practice of bringing into the present, underlies much Buddhist Mystic training.

Right Concentration
Focusing on a gardening job is one of the best mind practices We sweep away extraneous thoughts - allowing them to gently dissipate. Focusing on our task and breath, we become better able to be efficient in all areas of our life. We do what we are doing - we give focus and attentive awareness to this.

* Praise to the Buddha
* Praise to the Dhamma
* Praise to the Sangha

Ed Jason



Friday, July 17, 2009

Tứ niệm xứ, tứ chánh cần

Trên bước đường tu hành, chúng ta phải thấy nhứt quán về giáo pháp, nghĩa là có một sự nối kết xuyên suốt từ giáo lý Nguyên thủy cho đến các kinh điển Đại thừa. Không nên nhìn cục bộ và nghĩ rằng mình tu theo Nguyên thủy, hay theo Đại thừa một cách tách biệt. Và nếu theo pháp tu của Đại thừa lại còn chia ra pháp môn Tịnh độ, Thiền, hay Mật tông, cho đến phân chia thành 20 tông phái khác nhau, mỗi tông phái lại có lập trường tu khác nhau nữa. Nghĩ như vậy sẽ dẫn đến việc chống phá lẫn nhau, là sai lầm nghiêm trọng làm cho Phật giáo bị băng hoại.

Phải ý thức rằng dù tu bất cứ pháp môn nào cũng là pháp của Phật dạy và tất cả mọi người sống theo pháp Phật đều là đệ tử của Phật và đều có một mục tiêu duy nhất là thành Phật, người thành Phật trước, người thành Phật sau mà thôi. Vì vậy, tuy có nhiều đường đi khác nhau, nhưng cuối cùng mọi người đều gặp nhau ở một điểm, mà kinh Pháp Hoa gọi là “Đồng quy giáo”, nghĩa là giáo lý Phật đều đồng quy về nhứt Phật thừa.

Trên bước đường tu, sở dĩ chúng ta có nhiều lộ trình khác nhau, vì mỗi người có một nghiệp riêng, tức hoàn cảnh riêng, thì phải sử dụng pháp môn tương ưng với nghiệp của mình, không thể khác. Nghiệp được ví như bệnh và pháp môn tu ví như thuốc để chữa lành bệnh. Vì vậy, còn là chúng sinh tức còn bệnh nghiệp thì phải nương vào pháp môn thích hợp với mình để chữa bệnh, bệnh cảm thì uống thuốc cảm, bệnh lao thì uống thuốc lao, v.v...

Từ phàm phu đi lên Thánh vị, tiến đến Phật quả, không có con đường nào khác hơn là tu Tứ Thánh đế, dù tu pháp môn nào mà từ bỏ Tứ Thánh đế cũng đều sai lầm. Thật vậy, Đức Phật ứng hiện trong loài người nhằm khai thị cho mọi người, mà khai thị này là Ngài chỉ dạy Tứ Thánh đế. Pháp Tứ Thánh đế được kinh Pháp Hoa ví như có một thế giới mà tất cả mọi người đều bị mù bẩm sinh, tức mù từ khi mới sinh ra. Có một vị Đạo sư thương xót họ, Ngài mới hiện thân vào thế giới mù, chỉ duy nhất có Ngài sáng mắt; còn tất cả chúng sinh bị ngũ uẩn ngăn che, nên không thấy được chân lý và không thấy được nghiệp của họ, nên lúc nào họ cũng bị nghiệp hành hạ.

Vị Đạo sư sáng mắt thương xót người mù, mới lên tận núi tuyết, nhằm chỉ cho Đức Phật phải chịu khổ cực, trải qua sáu năm khổ hạnh, năm năm tìm đạo, để đi tìm cây cỏ thuốc chữa bệnh mù cho chúng sinh. Và Ngài đắc quả vị Vô thượng Bồ đề, tìm được bốn thứ cỏ thuốc là Tứ Thánh đế và sử dụng bốn thứ cỏ thuốc này để tạo ra những thứ thuốc khác nhau nhằm chữa lành bệnh cho chúng sinh.

Chúng ta là chúng sinh đui mù muốn sáng mắt để thấy Phật, phải tu Tứ Thánh đế, theo tinh thần Pháp Hoa, Tứ Thánh đế này gọi là ẩn mật Pháp Hoa kinh, hay giáo pháp Nguyên thủy. Chúng ta không nên chê đó là tiểu thừa; chỉ có người tiểu thừa là người chấp pháp, còn pháp thì không có tiểu thừa. Ẩn mật Pháp Hoa kinh nghĩa là trong đó hàm chứa Phật thừa, hành giả Pháp Hoa phải nhìn thoáng như vậy, phải thấy Tứ Thánh đế có công năng chữa cho người sáng mắt, tức không còn bị phiền não, nghiệp chướng, trần lao chi phối. Vì vậy, bao giờ mà phiền não, nghiệp chướng và trần lao còn gây khó khăn cho chúng ta, thì pháp Tứ Thánh đế vẫn còn rất cần thiết đối với chúng ta.

Muốn đi thẳng vào Pháp Hoa, vượt qua Tứ Thánh đế, đòi hỏi chúng ta phải đứng trên Bát chánh đạo là đỉnh cao của Tứ Thánh đế. Vì vậy, kiểm chứng lại khi nào chúng ta trụ ở trạng thái Niết bàn của Bát chánh đạo, chúng ta mới có thể đi vào Pháp Hoa; còn chưa đạt được sở đắc này, chúng ta chỉ mới tụng Pháp Hoa trên văn tự mà thôi, chưa thâm nhập thực sự thế giới Pháp Hoa.

Lúc nào chúng ta cũng phải kiểm chứng điều này, đặc biệt là trong mùa An cư, quý vị phải kiểm chứng 37 trợ đạo phẩm là 37 thứ thuốc mà Như Lai chế ra, chúng ta đã sử dụng trọn vẹn để trị hết phiền não, nghiệp chướng, trần lao của mình hay chưa. Riêng tôi, trong mùa An cư, nếu kiểm chứng thấy còn phiền não, nghiệp chướng, trần lao, thì mở tủ thuốc của Như Lai là Tam tạng kinh điển để lấy ra sử dụng.

Mở kho Pháp bảo, chúng ta thấy cái gì trước ? Mở cánh cửa vào đạo, Phật dạy chúng ta Tứ niệm xứ quán. Hãy xem trong bốn pháp quán này (quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã), chúng ta đã thực hiện thuần thục hay chưa, có trụ được pháp Không chưa. Nếu còn chấp ngã, chấp pháp, chắc chắn chúng ta còn phải sử dụng loại thuốc này. Quán bốn pháp này thuần rồi, nghĩa là chúng ta coi các pháp hữu vi là mộng huyễn, bào ảnh, coi tất cả mọi việc trên cuộc đời này đều hoàn Không. Trước khi Hòa thượng Thiện Hòa viên tịch, tôi đã đọc cho Ngài nghe bài kệ của kinh Kim Cang rằng :

Nhứt thiết hữu vi pháp như mộng huyễn,
bào ảnh, như lộ diệc như điển. Ưng tác như thị quán.

Sử dụng pháp quán Tứ niệm xứ để chúng ta vượt được phiền não, nghiệp chướng, trần lao. Và nếu vượt được, thì giả sử ta có thân bệnh, thậm chí là bị bệnh hiểm nguy, ta cũng không có cảm giác đang bệnh; vì ta đã ý thức sâu sắc rằng thân này, bệnh này là các pháp hữu vi mà bài kệ trên đã dạy chúng ta phải quán sát nó như huyễn mộng không có thực, như bọt nước có rồi liền mất, như hạt sương mai mong manh trên ngọn cỏ, như làn điện chớp trên trời, nên chúng ta không bận tâm đến nó.

Nếu nghe nói mình bị bệnh ung thư, tâm liền sợ hãi, buồn khổ, là biết cả quá trình tu hành của mình chưa có gì, tức cánh cửa thứ nhất là pháp Không chưa bước vào được; vì trụ pháp Không thì đối trước việc sống chết, chúng ta phải thấy là bình thường. Còn hạ thấp một bậc nữa, chúng ta phải vượt qua cơm ăn, áo mặc, chỗ ở. Chư Ni trong mùa An cư, đừng nghĩ đến cơm ăn, áo mặc, chỗ ở. Nếu còn nghĩ về tụ điểm an cư này, mà chỗ ở như vầy không ngủ được, ăn uống như vầy không chịu nổi, là còn bị kẹt vật chất quá nhiều, thì dù có tu cùng kiếp cũng sẽ bị đọa. Hoặc càng tu mà nghiệp càng cao, cứ nghĩ mình tuổi hạ lớn mà không cho làm Ni trưởng, tức chết, là rơi vào Tăng thượng mạn. Các cô tu hành không được quan tâm đến ba việc ăn, mặc, ở; nhưng Ni sư Hóa chủ, tức những người có chức vụ trong trường hạ, có phát nguyện lo cho đại chúng thì phải quan tâm để đại chúng tu hành tốt, không phải quan tâm cho riêng mình.

Kinh Pháp Hoa có câu mà tôi rất tâm đắc : “Không thích việc đời, cơm ăn, chỗ nghỉ và cũng không bị tam độc làm phiền, tâm họ là Thiền, thân làm giống Phật, nói pháp chân thật, khai thị nhứt thừa …” Nghĩa là lúc nào tâm chúng ta cũng lắng yên, không bị cơm ăn, áo mặc, chỗ nghỉ chi phối. Thực tu phải luyện tập cho được như vậy. Thuở nhỏ tôi xuất thân từ giai cấp nghèo, nên thấy việc ăn uống là quan trọng. Vào chùa mà cứ nghĩ đến thức ăn sẽ đọa ngạ quỷ; dù có khoác áo Sa môn nhưng đó là Ma Sa môn; vì Sa môn thật thì tâm đứng yên, gọi là Thiền. Phải luyện tập cho tâm đứng yên, không cho khởi bất cứ niệm gì, không để tâm buồn giận, lo sợ, ham muốn, đòi hỏi sinh ra.

Luyện tập tâm đứng yên, thì tới giờ ăn mà không có gì ăn, chúng ta kiểm xem tâm mình có đau khổ, buồn phiền, ham muốn hay không. Nếu còn những khởi niệm này là biết tâm mình không yên. Nếu có trai Tăng, thức ăn nhiều, chúng ta có khởi tâm vui mừng, thích ăn hay không. Theo kinh nghiệm riêng tôi, thuở nhỏ hễ thấy thức ăn ngon, mà khởi tâm tham ăn, muốn ăn nhiều, tôi tự phạt mình bằng cách không ăn và cắt bỏ được tâm này vài lần sẽ trở thành quen, thì có thức ăn ngon hay không, tâm mình vẫn bình thản. Quyết tâm tu như vậy, vào đạo được.

Đức Phật dạy rằng công đức người tu sinh ra thì cái gì rớt trên lưỡi cũng thành cam lồ; cho nên cao lương mỹ vị hay cơm trắng cũng giống nhau, không khác đối với Sa môn trụ định. Còn đối với người nghiệp chướng thì luôn bị nghiệp ăn phân biệt ngon dở hành hạ tâm họ. Tôi nhắc thầy tri khố chùa Ấn Quang rằng nếu cố nấu thức ăn ngon cho đại chúng, sử dụng nhiều bột ngọt là hại họ; vì đã tạo cho họ nghiệp quen ăn bột ngọt, đến khi không nêm bột ngọt, họ nuốt thức ăn không vô. Tu hành, chúng ta đừng để nghiệp sinh ra, phải cắt lần nghiệp cho đến hết nghiệp, thì phiền não sẽ chấm dứt.

Nghiệp là sự đòi hỏi của thân và của tâm; vì vậy, nghiệp hết thì sẽ không còn đòi hỏi nào nữa. Nghiệp còn thì ăn chay sinh bệnh. Nghiệp hết, những phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, gọi là mười triền cái không còn ràng buộc chúng ta; nhưng còn 20 tùy phiền não, vào hạ, chúng ta coi cái nào trong lòng khởi lên, thì cái đó là nghiệp. Phật dạy rằng phiền não khởi ở đâu thì diệt ở đó, nếu phiền não khởi trên tâm, chúng ta diệt trên tâm, phiền não khởi trên thân, chúng ta diệt trên thân. Xóa được phiền não, chúng ta mới thành Sa môn; còn giữ phiền não mà tu thì chỉ là Sa môn hình thức, còn tâm là ác ma. Ma mặc áo Sa môn nghĩa là Sa môn còn tham, sân, phiền não. Có việc mà khởi lên bực tức, tự biết mình là ma Sa môn, phải ngăn chặn ngay nghiệp ác này. Là Sa môn thì không thể giữ tham giận trong lòng. Muốn thành Phật, phải kiên quyết thực hiện điều này.

Muốn đoạn trừ nghiệp, phiền não và trần lao thì phải luôn tập trung trong tâm trí mình về vô thường, khổ, không, vô ngã. Phải luôn nhớ rằng tất cả mọi việc thế gian là vô thường, tâm của mọi người cũng vô thường, nên người ta hứa điều gì hôm nay, nhưng ngày mai họ lại đổi ý; biết như vậy chúng ta thấy điều đó là bình thường, nên không chờ đợi họ và cũng không bực tức họ. Và nếu quán sát sâu hơn sẽ thấy ý định của người ta vô thường, thay đổi, tại vì nghiệp của mình; còn nếu mình có phước báo thì chẳng những họ làm đúng như lời hứa với mình, mà còn phát tâm làm nhiều hơn nữa.

Xưa kia có một mùa hạ, Đức Phật không có thức ăn. Ngài kể rằng đó là túc nghiệp, vì đời trước Ngài tu hạnh Bồ tát có hứa cúng dường cho vị Sa môn; nhưng khi thấy vị đó tu hành không nghiêm túc, Ngài mới tức giận, nghĩ rằng sẽ không cúng cơm trắng, mà phải lấy lúa ngựa cúng cho vị này. Chỉ khởi ý niệm cúng dường lúa ngựa mà còn bị trả quả báo là mùa An cư, 500 Tỳ kheo và Ngài phải ăn lúa ngựa trong ba tháng.

Vì vậy, chúng ta luôn quán sát để tận diệt những ý niệm khởi lên trong lòng, để tâm đứng yên, tức trụ pháp Không. Cánh cửa vào đạo là Không, nên không thể mang hành lý nào qua được. Chúng ta buông bỏ tất cả vật chất và tất cả tâm niệm, thì qua được Không môn, Thiền môn. Nếu không qua cửa Không này, dù tu bao nhiêu kiếp, có thể có chút phước báo nhưng hưởng hết, rồi cũng bị đọa.

Qua cánh cửa này, đầu tiên là tu quán Tứ niệm xứ, luôn nhớ chữ Không. Theo kinh nghiệm riêng tôi, khi khởi bất cứ ý niệm gì cũng đều gặp chướng ngại; nhưng trở về tâm Không thì tất cả mọi việc đều tốt. Còn khởi lên ý niệm ta phải làm cách này, làm cách kia, mọi việc liền bị rối; buông thả ra, an trụ pháp Không, tất cả được giải quyết tốt đẹp.

An trụ pháp Không, Tổ Huệ Năng dạy rằng: “Vô nhất vật trung vô tận tạng”, nghĩa là trong cái Không đó chứa công đức vô cùng tận mà chúng ta không thể biết được; vì tất cả phước báo luôn đến một cách bất ngờ, khi chúng ta không khởi tâm, không dụng ý. Đừng để nghiệp sinh ra, rồi nghĩ rằng họ phải cúng dường, mà họ không cúng thì chúng ta phiền não.

Trụ Không, thì được bao nhiêu công đức đều hiện ra đầy đủ cho ta, là biết mình đã tu trong giáo pháp Phật. Ở trong pháp Không, nhu cầu của ta không còn, nhưng thặng dư lại có nhiều. Sa môn tu đúng pháp thì vô cầu, tất cả mọi việc trở thành tốt đẹp; nhưng nếu còn tính toán theo thế tục, tai họa sẽ giáng xuống nhiều.

Phải nhớ chúng ta khoác áo Sa môn, bắt buộc phải trụ pháp Không. Ai chưa vào được cửa Không này, đề nghị viết chữ Không lên cái đơn nằm để luôn nhắc nhở mình nỗ lực thực hiện cho được pháp này. Qua được cửa Không, công đức của Phật cho chúng ta rất nhiều, kinh Pháp Hoa gọi là đến được bảo sở có đầy của báu; đừng ở thế giới này mà mong cầu Phật pháp. Nhập đạo là phải nhập vào Không môn.

Dùng thuốc quán Không để trị bệnh phiền não, nghiệp chướng, trần lao; không phải để giết chết mạng sống của mình. Vì Đức Phật dạy chúng ta bỏ phiền não, nghiệp chướng, trần lao, bỏ tâm chấp thủ; đừng hiểu lầm bỏ thân người này rồi tuyệt phần tu hành, biết bao giờ có lại được thân này. Chúng ta may mắn có thân người, phải cố gắng giữ gìn sinh mạng để lấy đó làm phương tiện tiến tu đến Phật quả. Đức Phật sử dụng đại uẩn là đại dụng, cho nên Ngài lấy pháp giới làm thân; vì Ngài đã sử dụng thân mạng hữu hạn này tu hành để chứng được thân mạng vô cùng. Ý này trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy rằng xưa kia Ngài tu hành đạo Bồ tát cảm thành thọ mạng đến nay còn chưa hết; nghĩa là Ngài từ bỏ tất cả những gì hữu hạn để đạt cái vô cùng, không phải bỏ rồi mất hết.

Phật bảo chúng ta bỏ thủ uẩn là không chấp thì không khổ, vì chấp, muốn thế này thế kia mà không được, nên khổ đau. Vì vậy, trụ pháp Không để hạn chế nghiệp, phiền não, trần lao không sanh khởi và phát huy Tứ chánh cần. Tu hành không phải để cho ngày tháng trôi qua, không làm được gì là thiếu nợ đàn na thí chủ. Người tu luôn quyết tâm thực hiện tinh ba Phật dạy, tiếc thì giờ trôi qua nhanh, mà mình chưa đắc được pháp gì nên lo lắng ví như lửa đang cháy trên đầu mình. Tôi luôn nhớ còn nhiều việc phải làm để tạo công đức càng nhiều càng tốt, làm hành trang đi nhanh đến Niết bàn; vì sợ già yếu rồi khó tu, bỏ thân này mà tâm chưa chứng đắc pháp nào, chưa biết đường đi, thì rất nguy hiểm.

Vì vậy, thâm nhập thế giới Không rồi, nhưng buông xuôi, không làm gì, thì công đức không sinh ra được; vì chúng ta sẽ trở thành người sống thừa, là con nợ của xã hội, thì đàn na tín chủ cúng dường cho chúng ta không được gì cả; như vậy chúng ta đã mang nợ bốn ơn. Cho nên, người tu sử dụng phương thuốc thứ hai là Tứ chánh cần để chống lại bệnh lười biếng của mình. Tu hành mà sợ tụng kinh, ngán chấp tác, chỉ đi quả đường là cảm thấy sướng, thấy thức ăn ngon thì sáng mắt lên; như vậy chắc chắn là đọa rồi.

Người ham làm việc kiếm công đức, thì việc thiện nhỏ cũng làm. Việc thiện chưa sanh phải làm cho sanh. Tôi còn nhớ tấm gương sáng của Hòa thượng Thiện Hòa, Giám đốc Phật học đường Nam Việt trước kia, Ngài thức dậy sớm, tự tay quét dọn nhà vệ sinh. Thấy Ngài làm việc này, thiện tâm tôi sanh ra, tôi chắp tay xá và nói với Ngài rằng thầy để việc đó cho con làm. Nếu ta gây phiền hà cho chúng là tội, nhưng làm cho chúng là có phước. Tôi nghĩ mình không có gì cho đại chúng, thì dùng chút sức khỏe tình nguyện dọn dẹp sạch sẽ nhà vệ sinh, trước hết là để Hòa thượng Giám đốc không phải nhọc công làm và làm sạch cho chúng được an lạc thì đó là công đức.

Phật dạy việc thiện chúng ta siêng năng làm, việc ác chúng ta siêng năng đoạn trừ. Điều gì đại chúng muốn mà chúng ta làm, là thiện. Việc nào đại chúng không muốn mà chúng ta làm, là ác. Nếu không khéo tu, người ta đang thương mình, mà lại trở thành ghét. Chính ở nơi đây, chúng ta tạo công đức, nhưng cũng tạo nghiệp chướng.

Phật bảo chúng ta xóa phiền não, trần lao, nghiệp chướng và qua giai đoạn tu Tứ chánh cần, luôn làm việc thiện, dứt trừ việc ác, thì đến đâu cũng được người kính trọng, được Phật thọ ký. Người nhẫn nhục tu hành, siêng năng làm lợi ích cho đại chúng thì ở đâu người ta cũng thương, cũng cần. Thành tựu được pháp Tứ chánh cần, chúng ta ghi thêm được chữ Cần, mới bước qua tụ thứ ba, tu Tứ như ý túc. Chúng tôi sẽ triển khai ý này trong thời giảng tiếp theo.

HT.Thích Trí Quảng


Saturday, August 2, 2008

Tứ Diệu Đế

T Diu Đế được xem là phn giáo lý ci gc ca đo Pht và cũng là tinh ba quan trng cho mi người con Pht không phân bit Tiu tha hay Đi tha, Thin tông, Tnh đ.v.v...

Hu hết người Pht t ít nhiu đu biết qua T Diu Đế. T Diu Đế là bài thuyết pháp đu tiên ca đc Pht. Ngài ging dy cho năm anh em tôn gi Kiu Trn Như ti vườn Lc Uyn (Deer park) gn Ba La Ni (Benares).

T Diu Đế là bn s tht vi diu, hay gi là bn chân lý vi diu, đó là: Kh đế, Tp đế, Dit đế, Đo đế.

Kh đế

Kh là mt s tht. Mt s tht hin nhiên rõ ràng, ai ai cũng thy biết. Mt đa bé mi sanh cũng đã tiết l cho mi người thy đó là tiếng khóc "Thot sinh ra thì đà khóc chóe, Trn có vui sao chng cười khì..." (Nguyn Công Tr) hay là "Tho nào khi mi chôn nhau, Đã mang tiếng khóc ban đu mà ra" (Ôn Như Hu). Tiếng khóc y kéo dài đăng đng đến lúc nhm mt lìa đi trong hình dáng mt người già đau bnh. S tht ca kh được thy qua mt cách c th khi đc Pht dy "Ny các T Kheo, đây là chân lý v s đau kh: Sinh là kh, già, đau, chết là kh, gn người thù, xa người thân hoc không đt được nguyn vng đu là kh. Tóm li nhng yếu t vt lý và tâm lý cu to nên con người đu đau kh (3)."

Nhìn nhn đi là kh không phi là bi quan, yếm thế mà là s thành tht, sáng sut tha nhn. Nếu người ta có th vui v, pht l được cái kh nói trên, thì mi dám nói đây là quan nim bi quan, yếm thế.

Thế gian vô thường, hoàn cnh vt cht luôn thay đi, hư hoi; con người li nm trong cái hư hoi đó th hi làm sao tránh được kh; cho nên kh là chân lý. Và đã là chân lý thì dù ta có bi quan hay lc quan kh vn là kh.

Tp đế: nguyên nhân ca kh

Nguyên nhân ca kh là do tham ái, dc tình. Chính s luyến ái tham vng này mà kéo đưa con người mãi trong vòng sanh t. Vic khát khao ôm gi tham dc không biết nhàm chán, t đây sinh ra cái kh trin miên không dt.

Con người đã lm tưởng, mt ước ao ham mun nào đó s dng ngh khi được tha lòng chiếm hu. Nhưng s tht li không bao gi hài lòng tha mãn. Mt gia tài kết xù li quá nh bé vi mt con người đy tham vng. Mt mi tình đp ca đôi tình nhân tưởng là hoa mng thiên thu, nhưng ri tha mãn hoa mng đó cũng ngui lm đi, và ước vng dc tình khác li ny n. Điu hnh phúc ca người này nhưng là vic đau kh ca người kia, và điu hnh phúc ca người kia thì h chng bao gi thy đ. Cái nghch đo bt thun này nào đâu phi là nguyên nhân xa xôi huyn bí, tt c ch do lòng tham dc mà ra. Chng hn k ăn xin bng dưng may mn tr thành người đy đ tin bc, vy mà mt thi gian trôi qua, người ăn xin này bây gi đã đy đ li thy mình còn thiếu kém khi nhìn người bên cnh đy đ hơn. Thm chí đến ngay k đy đ nht vn còn thy cái đy đ đó không đ như ước mun; và vy vn có cái kh mc đ nào đó mà nhiu người tưởng rng phi lý! Ước mun kia chính là lòng tham mun dc vng không đáy. Do đây Pht dy "Này các T Kheo, đây là chân lý nguyên nhân s đau kh: Chính vì dc vng mà ta phi luân hi và c chy theo lc thú đi mãi (4)."

Dit đế: dit tr tham ái, phin não

Biết được nguyên nhân tham dc, luyến ái là kh. Vy mun dit kh thì phi chm dt mm mng nguyên nhân này. Cũng như k đau bnh biết được bnh phi cha tr ngay, nếu không dù có rành mch phân tích biết rõ lý bnh cũng chng ích chi, ri phi chết trong đau tiếc.

Khi kh đã không còn hay nói cho đúng là tham dc, luyến ái, vng tình, sân gin, si mê, vô minh, phin não đu chm dt thì đây s an tnh, gii thoát có mt và trng thái an lc này còn gi là Niết Bàn. Do đó kết lun rng kh ch có th tiêu mt khi Dit đã được thc hành, đó là chân lý.

Đo đế: con đường đưa đến s dit kh

Là con đường hướng dn hành gi làm thế nào đi trn cuc hành trình dt lìa tham dc phin não. Phương pháp thc hành tu tp được đc Pht dy qua pháp Trung đo, xa lìa hai cc đoan sai lm: hành xác kh hnh và tham đm khoái lc. Hai li sai lm này được Pht ví như dây đàn căng quá và chùng quá. Đàn có th nghe được khi mc đ căng dây va phi.

Con đường trung đo được biết qua tám pháp gm có:

1. Chánh kiến (hiu biết chân chánh)

2. Chánh tư duy (suy nghĩ chân chánh)

3. Chánh ng (li nói chân chánh)

4. Chánh nghip (hành đng chân chánh)

5. Chánh mng (sinh hot chân chánh)

6. Chánh tinh tn (c gng siêng năng

chân chánh)

7. Chánh nim (ký c chân chánh)

8. Chánh đnh (đnh tâm, tp trung chân chánh)

Trong tám pháp đây được chia ra làm Tam Vô Lu hc (mà người tu Pht phi xem là điu ti cn không th lìa b, đó là: Gii, Đnh, Hu.

Các phn Chánh ng, Chánh nghip, Chánh mng thuc v Gii.

Các phn Chánh tinh tn, Chánh nim, Chánh đnh thuc v Đnh. Và phn Chánh kiến, Chánh tư duy thuc v Hu.

Nn tng ca Gii, Đnh, Hu là căn bn cho con đường gii thoát. Bi Gii là điu kin ngăn chn nghip ác, tăng trưởng nghip lành ca ba nghip Thân Khu Ý. Đnh là đnh lc tp trung thanh lc tư tưởng, và Hu là trí hu thanh tnh sáng sut phát sinh ngay khi đó, sau khi Gii và Đnh lưu thông. Như thế đo đế là chân lý rt ráo trong vic gii quyết sinh t.

Trên đây ch tóm lược ý chính, ni dung ca T Diu Đế đ thy rõ giáo Pháp ca Pht là chân lý.

Thích Phổ Huân