Showing posts with label Tứ Nhiếp Pháp. Show all posts
Showing posts with label Tứ Nhiếp Pháp. Show all posts

Saturday, November 8, 2008

Giải phóng tư tưởng

Viên Minh & Trần Minh Tài

--- o0o ---

Nói theo Pascal: "Con người là một cây sậy biết tư tưởng", nhưng nếu tư tưởng giúp con người vượt xa loài vật thì cũng chính tư duy giam hãm con người trong vòng lẩn quẩn của vọng tưởng và đưa đến kiến chấp. Cuộc chiến tranh ý thức hệ ngày nay cũng đủ chứng minh rằng nhân loại đang tự tiêu diệt trong chính tư tưởng của mình. Vì vậy Đạo Phật chủ trương giải phóng được tư tưởng tức là giải thoát.

Con đường đưa đến cuộc giải phóng tư tưởng là suy nghĩ chơn chánh: Chánh Tư Duy.

Chánh Tư-Duy là một chi pháp trong Bát-Chánh Đạo. Danh từ Phạn ngữ gọi là Sammà sankappa. Sammà là chân chánh, Sankappa do động từ Sankappeti là suy tư hay nghĩ tưởng. Những danh từ phạn ngữ Sannà (tưởng), Vipassanà (Quán), Cintà (tư), Anupassanà (trầm tư mặc tưởng) tuy có nghĩa riêng của nó nhưng ở đây được xem như đồng nghĩa với Sankappa (Tư Duy).

Trong Tam Huệ, Tư duy là một pháp rèn luyện trí huệ, nhưng tư duy đó phải là một thứ suy nghĩ chơn chánh. Có suy nghĩ chân chánh thì tri kiến mới chơn chánh, hành động và lời nói mới chân chánh, như thế chúng ta thấy rằng Chánh Tư Duy đóng một vai trí quan trọng trong việc tu tập để chóng đạt tới đích giải thoát giác ngộ.

Vậy thế nào gọi là Chánh Tư Duy?

Tư tưởng chân chánh là pháp đối trị ba thứ vọng tưởng hay tà tư duy:

1. Dục tưởng: Suy nghĩ đến dục lạc (kàmasukha), nói một cách khác là tư tưởng bám víu trong tài, sắc, lợi, danh hay trong ngũ trần: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc.

2. Sân tưởng: Là nuôi tâm niệm bất bình giận hờn ganh ghét về những đối tượng không vừa lòng hợp ý.

3. Hại tưởng: Suy nghĩ những phương kế hãm hại kẻ thù nghịch với mình, nhất là tiêu diệt đối thủ.

Trái với ba vọng tưởng đó là Chánh Tư Duy :

1. Ly dục tưởng: Hằng suy nghĩ đến tính cách vô thường, tạm bợ của pháp trần. Đức Phật ví sự tan hợp của ngũ trần hay nói chung là pháp hữu vi như giấc mộng, như trí huyễn hóa, như bọt nước, như ảo ảnh, như sương mai, như ánh chớp trên không trung (Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện ưng tác như thị quán). Suy nghĩ như thế là để thoát dần ra khỏi trói buộc của dục lạc ngũ trần. Đời sống của chúng ta hẳn sẽ tự tại, hạnh phúc hơn khi không còn bị dục lạc chi phối. đúng như một nhà tư tưởng Tây phương đã nói: "Muốn có được những hạnh phúc cao thượng thì hãy lánh xa những lạc thú đê hèn".

2. Ly sân tưởng: Không nuôi trong lòng những tư tưởng sân hận. Trong Pháp Cú kinh Đức Phật có dạy:

"Nó nhục mạ ta, đánh đập ta, chiến thắng ta và cướp đoạt của ta. Người nào hằng ôm ấp những tâm niệm như thế thì oán hận không bao giờ nguôi ... nhưng kẻ nào xả ly được những tâm niệm ấy thì oán hận ắt phải tiêu tan" (Akkochimam avadhimam, ajinimam ahàsime. Ye tam upa nayhanti, veram tesam nasammati... ye tam nu panayhanti veram tesùpasammati).

Một đoạn kinh khác dạy: "Phải dứt bỏ sân hận, phải tránh xa ngã mạn và đoạn lìa mọi ràng buộc thì phiền não không thể chi phối được". Thật vậy người ôm ấp tư tưởng sân hận tự đốt cháy lấy mình bằng chính tư tưởng sân hận đó trước khi gia hại được kẻ khác.

Muốn giải phóng tư tưởng ra khỏi sân hận phải diệt trừ tâm niệm đó bằng cách rèn luyện Đức tính Từ Bi Hỷ Xả. Vì chỉ có lòng Từ Bi mới diệt được hận thù (Averana veràni sammanti). Trái lại hận thù chỉ làm cho hận thù thêm chồng chất.

Trong 40 đề mục thiền định, đề mục đối trị tâm niệm sân hận là Từ Bi Quán (Mettà Bhavana). Từ Bi Quán là rải từ tâm đến tất cả chúng sanh không phân biệt thân hay thù, người hay vật. Như vậy người hành Từ Bi Quán phải luôn luôn giữ tâm cởi mở, trong lành và mát dịu như nước cam lồ, phải hằng niệm tưởng như vầy:

-- "Nguyện cho tất cả chúng sanh đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được an vui." (Sabbe sattà averàhontu, sukhità hontu).

Chúng ta có thể niệm tưởng như thế bất cứ lúc nào chứ không cần phải ngồi kiết già hàng giờ như khi thực hành các đề mục thiền định khác.

Hồi hướng công đức sau mỗi lúc ta làm được một điều phước thiện, cũng là một hình thức khác của Từ Bi Quán. Nhờ niệm tâm từ mà dần dần hành giả dẹp bỏ được lòng oán hận, ganh tị, bơn sẻn, vị kỷ và phát huy tâm bác ái, hoan hỷ, quảng đại, vị tha.

Một bậc chỉ có thể gọi là Bồ Tát khi đã phát tâm cứu độ chúng sanh, nghĩa là phải có tâm từ bi xuất chúng, chứ không thể tự xem mình là Bồ Tát khi tâm còn ôm ấp hận thù oan trái.

3. Ly hại tưởng: Là dẹp bỏ những ý nghĩ hãm hại kẻ khác. Con người vì quá chấp ngã và ngã sở nên sẵn sàng hãm hại, tiêu diệt kẻ nào đụng đến quyền lợi, danh dự của mình. Nhưng nếu mình biết tự ái, biết tự bảo vệ hạnh phúc và sự sống còn của mình thì tại sao không tôn trọng hạnh phúc và sự an nguy của kẻ khác? Đức Khổng Tử dạy: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" (cái gì ta không muốn thì đừng làm cho người). Vậy ta không muốn đau khổ thì tại sao tìm hạnh phúc trên sự đau khổ của kẻ khác. Và sao ta không tìm hạnh phúc bằng cách đem an vui đến tha nhân, như câu châm ngôn Tây phương nói rằng: "Bàn tay tặng hoa hồng tự nó thỏm trước."

Người Phật tử nên ghi nhớ lời dạy sau đây của Đức Từ phụ:

"Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng đều sợ chết. Lấy bụng ta suy bụng người, không nên giết hại, cũng không nên bảo ai giết hại mà phải thực hành tâm hỷ xả, bao dung để diệt trừ tâm niệm hãm hại kẻ khác".

Trên đây là chúng ta vừa nói đến ba Pháp Chánh-Tư-Duy để đối trị với ba ác tưởng. Trong kinh khác Đức Phật lại dạy thêm 10 Pháp Tư-Duy gọi là Thập Tưởng.

1. Vô thường tưởng (Aniccà Sannà): Suy tưởng đến nguyên lý thứ nhất của vạn hữu là Vô Thường. Nhìn sự sinh diệt của hiện tượng ngoại giới cũng như chính nội tâm, ta biết rằng: "Các Pháp do nhân duyên hợp khởi đều phải bị định luật biến đổi chi phối" (Sabbe Sankhàrà aniccà). Suy nghĩ như thế là để giải phóng tư tưởng ra khỏi các vọng chấp tướng.

2. Khổ tưởng (Dukkha Sannà): Suy nghĩ đến tính cách khổ não của đời sống trong hiện tượng giới. Chữ khổ ở đây không hoàn toàn ám chỉ thân khổ hay tâm khổ, như sinh, già, đau, chết, phiền muộn, uất ức ... mà còn bao hàm tính cách bất lợi, phiền toái của pháp hữu vi (sabbe sankhàrà dukkhà). Đức Lão Tử than rằng: "Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân, cập ngô vô thân ngô hữu hà hoạn." Cái thân Đức Lão Tử nói đây thuộc về pháp hữu vi nghĩa là do nhân duyên sinh khởi và cái đại hoạn đó chính là chữ Khổ trong Đạo Phật. Pháp hữu vi khiến ta vướng mắc không được tự tại nên là đại hoạn, là khổ vậy.

3. Vô ngã tưởng (Anatta SaƯnƯnà): Suy nghĩ đến bản chất rỗng không của các pháp. Hiện tượng luôn luôn biến đổi nên không có thực thể, con người được xem như là một hiện tượng tâm vật lý, gồm danh (nàma) hay tâm giới và sắc (rùpa) hay vật thể giới. Vậy toàn bộ cái gọi là Ta cũng không có thực thể nghĩa là vô ngã. Không phải riêng hiện tượng tâm vật lý mới là vô ngã, mà tất cả các pháp đều không có thực thể (Sabbe dhammà anattà), nhờ suy tưởng như thế mà dần dần ta thoát ra khỏi chấp ngã và ngã sở để đi đến chỗ tự tại vô ngại.

4. Yếm ly thực tưởng (Ahàre patikkulasannà): Tư tưởng không vướng bận trong việc mưu sinh. Tục ngữ Pháp nói rằng: ăn để sống chứ không phải sống để ăn. Vì vậy Đức Phật dạy các vị Tỳ Khưu phải tiết độ trong việc ẩm thực (Bhojanamhi mattannum) và quán tưởng vật thực chỉ là tứ đại, ta phải dùng để duy trì sức khoẻ hầu tu hành theo đạo cao thượng. Quán tưởng như vậy là để chúng ta không còn nô lệ vào vật chất một cách quá đáng. Mới xem ra yếm ly thực tưởng có vẻ tầm thường nhưng lịch sử đã chứng minh rằng nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu từ cổ chí kim gây ra bởi tranh giành ảnh hưởng kinh tế, nói một cách nôm na là vì miếng cỏm manh áo.

Như thế chúng ta phải xem ăn uống chỉ là phương tiện, chứ đừng đặt nó làm mục đích của cuộc sống, vì cứu cánh của đời sống phải là cái gì cao thượng hơn.

5. Nhất thiết thế gian bất khả lạc tưởng (Sabbaloke anabhitasannà): Tư tưởng tự tại đối với tất cả thế gian pháp. Chữ Thế gian (loka) theo đệ nhất nghĩa đế (paramattha sacca) là những gì phát xuất từ căn Tham, Sân và Si, nói một cách khác là kết quả của vô minh và ái dục. Đức Phật dạy rằng, chúng sanh bị chi phối bởi Tám Pháp Thế Gian là: được lợi, mất lợi, được danh, mất danh, được khen, bị chê, được vui, bị khổ. Người nào tự giải phóng tư tưởng ra khỏi ba căn bất thiện, không vướng mắc trong Tám Pháp Thăng Trầm của thế gian thì chắc chắn được tự do, giải thoát.

6. Tử tưởng (Marana sannà): Suy nghĩ đến cái chết tất hữu của mình. Có người mới nghe đến hai chữ Tử Tưởng đã vội cho rằng đđao Phật bi quan đến nỗi đang sống mà đã nghĩ đến cái chết, nhưng thật ra đó là một thái độ rất tích cực và can đảm. Can đảm vì dám đối diện với một sự thật phũ phàng, và tích cực vì không bó tay chịu chết mà đứng lên tranh đấu và sẵn sàng đối phó với tử thần. Như một nhà tư tưởng nói rằng: "Nghệ thuật sống giống như đánh vợt phải luôn luôn sẵn sàng để đối phó với những cú bất ngờ."

Hơn nữa Đức Phật dạy suy nghĩ đến cái chết là gián tiếp bảo chúng ta phải:

-- Chiến đấu từng giây từng phút, không để mất một giờ khắc nào trong sứ mạng tự giác, giác tha.

-- Chấp nhận cái chết như một sự kiện hiển nhiên, trong khi nỗ lực tu niệm như một chiến sĩ cảm tử ra mặt trận đã chấp nhận trước cái chết của mình nên mới dám xông pha trong gưỏm đạn.

-- Thấy sống chết là sự thường để không còn bị chi phối bởi những thăng trầm của cuộc đời.

Thiền sư Vạn Hạnh đã dạy chúng ta:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tưỏi tốt, thu qua rụng rời
Sá chi suy thạnh việc đời
Thạnh suy như hạt sương rỏi đầu cành (Thích Mật Thể dịch)

7. Đa quá tội tưởng (Asabhà sannà): Asabhà là bất tịnh, ám chỉ 32 thể trược trong thân ta. Vì sao Đức Phật dạy ta phải quán tưởng thân bất tịnh? Như chúng ta từng thấy, nhiều người vì quá trọng thân xác và bảo vệ nó với bất cứ giá nào. Đạo Phật gọi đó là thân kiến, thân kiến là một trong mười kết sử mà một người muốn giải thoát phải cắt đứt. Nhưng đừng hiểu lầm rằng diệt thân kiến là tự hủy bỏ xác thân mình. Chính đức Phật dạy phải giữ gìn cho thân thể tráng kiện để dễ dàng tu niệm. Và chúng ta phải biết rằng giữ gìn thân thể khoẻ mạnh là khác còn quá quí trọng thân xác là chuyện khác. Một người khoẻ mạnh có thể hy sinh thân mình cho nghĩa cử vị tha cao đẹp, còn người quá quí trọng xác thân thì trái lại có thể hãm hại kẻ khác để mình được vinh thân phì gia.

8. Ly tưởng (Pahàna sannà): Tư tưởng xuất ly tam giới. Một trong bốn điều làm cho chúng sanh chìm đắm trong vòng luân hồi là dục lậu, có nghĩa là mê chấp vào sự hiện hữu trong tam giới. Ngay cả bậc thiền cao nhất là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ cũng còn gọi là hữu lậu. Bao lâu chưa diệt tận hữu lậu thì chưa thể giải thoát được. Lúc Bồ Tát Sĩ Đạt Đa vào rừng tầm đạo, Ngài được nhiều vị thiền sư Bà La Môn chỉ giáo và chẳng bao lâu Ngài đắc được các bậc thiền. Đối với những vị Bà La Môn như thế Ngài đã giải thoát, nhưng Bồ Tát tự thấy tư tưởng của mình vẫn còn lệ thuộc trong vòng tam giới rồi Ngài quyết thoát ra khỏi những hữu lậu vi tế nhất còn tiềm tàng ngay trong các thiền tâm. Cuối cùng dưới cội cây Bồ đề tại Bodhigàya Ngài đã toàn tất cuộc giải phóng tối hậu và đã được siêu xuất tam giới.

9. Diệt tưởng (Nirodha sannà): Là hằng hoài bão tâm niệm diệt tận phiền não. Phiền não có nhiều thứ, như 10 kiết sử, 14 tâm sở bất thiện, 11 thứ là phiền não; bốn hoặc lậu... nhưng nói chung là tham, sân, si hay vô minh và ái dục. Chính phiền não là một cái lưới phong tỏa, hay lò là (hỏa trạch) thiêu đốt chúng sanh. Tư tưởng chỉ được giải phóng khi đã dẹp tan được những kềm chế của những phiền não.

10. Vô ái tưởng (Viràga sannà): Cuối cùng là giải phóng tư tưởng ra khỏi ái dục. Kinh Dhammapàda (Pháp Cú), phẩm Piya vagga, dạy rằng: "Ái dục sinh ra sầu muộn, ái dục sinh ra lo sợ. Người đã hoàn toàn dập tắt ái dục không còn sầu muộn, lo sợ nữa." Thật vậy, tư tưởng của chúng ta còn bị ảnh hưởng ái dục thì chưa thể tự tại vô ngại được.

Nói tóm lại, một cuộc cách mạng khó khăn nhất là cuộc cách mạng giải phóng tư tưởng ra khỏi ràng buộc ngoại giới cũng như những ô nhiễm nội tâm, vì tư tưởng đòi hỏi nhiều thử thách cam go qua các giai đoạn huấn luyện và phấn đấu để tìm tự do. Cho đến khi tư tưởng được hoàn toàn tự chủ không lệ thuộc vào một sở tri chướng, một phiền não chướng nào, đó chính là Chánh Tư Duy vậy.


Sunday, August 3, 2008

Tứ nhiếp pháp

A. MỞ ĐỀ

Tu hạnh lợi tha nhiếp hóa chúng sinh là bổn phận của Bồ Tát

Ðức Phật ra đời nhằm mục đích cứu vớt chúng sinh ra khỏi vòng sanh tử luân hồi. Người Phật tử theo dấu chân Phật tất phải tập làm những gì đức Phật đã làm. Trong khi tu hành, Phật tử không bao giờ nên quá chú trọng đến mình mà quên người, không nên chỉ lo giác ngộ cho mình mà không tìm cách giác ngộ cho người. Trong đạo Phật, mình với người là một khối, mình không khác người, không thể phân chia ra được. Càng lo tự lợi chừng nào lại càng đi ngược với sự tu hành chừng ấy. Trái lại, càng hy sinh cho người, càng chú trọng đến lợi tha, lại càng mau chứng ngộ chừng ấy.

Phật có vô lượng phương pháp cứu độ chúng sanh, chúng ta muốn áp dụng phương pháp nào cũng được. Song muốn có kết quả cụ thể, chúng ta phải tùy theo căn cơ, hoài bão của chúng sanh mà chọn pháp môn tu hạnh lợi tha. Đối với người đồng loại, chúng tôi tưởng không có phương pháp nào có hiệu quả thiết thực lợi ích cho người và làm cho người cảm hóa sâu xa bằng pháp môn Tứ nhiếp pháp.

B. Chánh Ðề

I. Ðịnh Nghĩa

Tứ nhiếp pháp là gì? Tức là bốn phương pháp lợi tha để nhiếp phục chúng sanh quay về với Phật pháp.

Bốn phương pháp đó là:

Bố thí nhiếp

Ái ngữ nhiếp

Lợi hành nhiếp

Ðồng sự nhiếp

II. Hành Tướng Của Tứ Nhiếp Pháp

1. Bố thí nhiếp

Một xã hội tốt đẹp hay xấu xa, hòa bình hay hỗn loạn không phải là không nguyên nhân. Nguyên nhân của hỗn loạn xấu xa chính là lòng ích kỷ. Nhân loại đang quằn quại trong khổ đau, những cảnh nồi da xáo thịt, tái diễn hằng ngày là do đâu, nếu không phải chính là lòng tham lam ích kỷ?

Ðạo Phật là đạo từ bi, nghĩa là cứu khổ. Mà những nỗi khổ lớn của con người là gì? Ðó là sự thiếu thốn về vật chất, sự mê mờ về tinh thần, và lòng lo sợ về đủ mọi thứ, như lo sợ mất tiền của, mất thân mạng, gặp tai biến, v.v...

Vậy người có lòng từ bi, muốn cứu khổ thì trước tiên phải xả bỏ tánh ích kỷ, phải cho mọi người những gì mình có, phải cho những gì người khác mong muốn. Nghĩa là phải làm hạnh bố thí. Do sự bố thí ấy mà mình cảm phục được người chung quanh, mà người chung quanh mới gần gũi thân mến mình và mong cầu học đạo giải thoát. Bố thí có 3 lối: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.

a) Tài thí: Tài là tiền của. tài thí là đem tiền của mà bố thí, để cứu vớt người đồng loại thoát khỏi đau khổ. Cảnh khổ của chúng sinh về vật chất không thể kể xiết: người thiếu cơm, kẻ thiếu áo, người thiếu thuốc thang, kẻ thiếu nơi nương náu...Ðứng trước bao cảnh khổ ấy, người Phật tử không thể nào an nhiên hưởng sự súng sướng riêng được, mà trái lại thấy mình có bổn phận xuất của, ra công giúp kẻ nghèo khổ, thiếu hụt.

Ðừng viện cớ, hay tự an ủi mình nghèo không có của tiền giúp đỡ người chung quanh. Thật ra miễn là mình có từ tâm hay không, chứ không phải mình hoàn toàn thiếu phương tiện để giúp đỡ người khác. Một chén cơm vẫn có thể chia hai được, một manh chiếu vẫn còn đủ chỗ cho thêm một người nằm được. Người ta thường nói: "chật bụng chớ chật chi nhà", là thế. Người triệu phú đem cho năm, bảy ngàn bạc không làm cho người ta cảm phục, quý mến bằng người nghèo chỉ có hai bộ quần áo, mà đem cho bớt đi một bộ.

b) Pháp thí: Pháp là giáo pháp, là những lời dạy, những giáo lý của đức Phật và các bậc Thánh Hiền Tăng, là tam tạng kinh điển. Pháp thí là đem những giáo pháp quý báu ấy mà bố thí, giảng dạy cho chúng sinh.

Chúng sinh đang mê mẫn, xoay vần trong sáu cõi, gây nghiệp rồi thọ báo, khác nào tỉnh mộng rồi lại mơ. Trong lúc mộng nào biết có mơ, cứ lăn lộn vào đường ái, như bướm đâm đầu vào đèn. Vì thế, đức Phật mới đem giáo pháp ra giảng dạy khiến cho chúng sinh ra khỏi biển khổ luân hồi.

Pháp của Phật nhiều vô số lượng, cao bao nhiêu cũng có, thấp bao nhiêu cũng có, đủ cỡ, đủ loại cho mọi căn cơ. Dù người nước nào, bực nào, căn cơ cao hay thấp, sáng hay tối, một khi nghe đến pháp của Phật, tùy sức đều được hiểu cả. Nên trong kinh có câu: "Phật thuyết nhất âm, chúng sinh tùy loại các đắc giải".

Chúng ta đừng viện cớ mình còn kém Phật pháp, không thể làm công việc thí pháp được. Như trên dã nói, Pháp Phật có vô số lượng pháp môn, nếu không biết được pháp môn cao thâm, thì cũng biết được pháp môn thông thường. Mỗi Phật tử ít ra cũng biết tụng kinh, niệm Phật, lễ Phật, ăn chay. Chúng ta đem những điều ấy chỉ bảo cho người, thế cũng là thí pháp rồi. Nếu làm những điều ấy với tấm lòng chân thật, hoan hỷ, cố mong sao cho người chung quanh đi đến với đạo để được lợi ích, thì sự thí pháp ấy còn đáng quí hơn là giảng những giáo lý cao với một thái độ dửng dưng hay tự cao tự đại.

Tuy thế, đã là Phật tử thì chúng ta có bổn phận phải luôn luôn trao dồi, học hỏi để biết rộng hiểu nhiều, hầu tự giải thoát và để công việc thí pháp của chúng ta được hiệu quả hơn, phổ biến rộng rãi hơn và ứng dụng trong mọi trường hợp.

Thí pháp càng lan rộng, thì người xu hướng về với Phật pháp càng nhiều và cõi đời càng bớt đau khổ.

c) Vô úy thí: Vô úy là không sợ hãi. Vô úy thí là đem cái không sợ mà thí cho chúng sinh. Sự sợ hãi là một tâm trạng rất thông thường của chúng sinh trong cõi đời giả tạm và đầy đau khổ này. Vậy người có lòng từ bi, phải cố gắng làm sao cho chúng sinh chung quanh có được sự bình tĩnh, yên ổn của tâm hồn, không hoang mang lo lắng, sợ hãi.

Vô úy thí, không phải chỉ những người có can đảm, có tài năng, có uy quyền mới làm được. Hằng ngày chung quanh ta, biết bao người đang ở trong cảnh sợ hãi; nếu thật chúng ta có lòng từ muốn giúp đỡ cho họ khỏi sợ hãi thì không có lúc nào là không thể làm được: một đứa bé đang kinh hãi trước hàm răng của con chó dữ; một bà lão lo sợ bị xe cán không dám băng qua đường nhiều xe cộ; một thiếu nữ đi đêm "sợ ma"; một thí sinh run rẩy trước giờ vấn đáp, v.v...đó là bao nhiêu cơ hội mà chúng ta có thể thi hành pháp Vô úy thí. gặp người bị tai nạn, ta đem tài năng hay thế lực ra đùm bọc, che chở cho họ khỏi sợ hãi; gặp người đau ốm, lo sợ thần chết mang đi, ta lấy luật vô thường giảng giải cho họ và bảo họ niệm đức Quan Thế Âm Bồ Tát hay Phật A Di Ðà v.v...đó là Vô úy thí.

Tóm lại, bố thí là do lòng từ bi vô hạn mà làm. Nó có một phạm vi rộng rãi vô cùng. Khi nào còn có chúng sanh đau khổ thì ta còn bố thí.

Hình thức cao nhất của bố thí là bố thí Ba la mật, nghĩa là bố thí rất nhiều mà không thấy mình có bố thí; bố thí mà không phân biệt thân sơ, không chấp ta, người, thù, bạn; bố thí mà không chấp số lượng những vật thí. Như thế là ta đã thành tựu pháp "Tam luân không tịch" về bố thí. Khi ấy, bố thí không còn là một việc làm phúc hay ban ân nữa, mà chính là một việc tự nhiên, không thể bỏ qua được như ăn, như uống, như một bổn phận nhất định hàng ngày.

Vậy đã là Phật tử thì không thể nào không thi hành pháp bố thí được. Sự thi hành này tùy phương tiện, tài năng, thể lực của mình, và ở trong hoàn cảnh nào cũng làm được, chứ không phải đợi có đủ một số điều kiện nào đó mới làm được. Miễn là ta càng cố gắng giúp ích, cứu khổ cho người được chừng nào thì quí chừng ấy.

2. Ái ngữ nhiếp

Ái ngữ nhiếp là tùy theo căn tánh chúng sanh mà khôn khéo nói năng, an ủi, khuyên lơn, nhân thế khiến cho họ sinh lòng thân mến, cảm phục, rồi từ đó họ mới theo ta mà học đạo.

Ở đời phần nhiều người ỷ của, cậy quyền, đối với mọi người dùng lời không tao nhã, nên làm cho người chung quanh chán ghét. Một khi họ không yêu mến, cảm phục, thì tuy trước mặt họ dạ dạ, vâng vâng, mà sau lưng lại không chịu phục tùng, nghe theo. Vì thế, nhiều việc phải bị hư hỏng.

Tục ngữ có câu: "Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Thật thế, lời nói là một của báu mà mọi người đều có cả, không phân biệt giàu, nghèo, sang, hèn. Nhưng cũng lời nói ấy người nầy sử dụng thì nên công việc, còn người kia sử dụng thì lại tán gia bại sản. Sở dĩ như thế là vì một bên biết lựa lời ăn nói dịu dàng, dễ nghe, còn một bên cộc cằn, thô tục. Nhiều người, tự bào chữa, thường bảo: "Tánh tôi ngay thẳng và có hơi nóng, nên hay ăn to nói lớn, chứ thật ra tôi không có ác ý".

Không có ác ý, nhưng làm cho người chung quanh phải đau khổ, khó chịu vì lời nói khiếm nhã, thô bạo của mình, thì có khác gì người ác?

Vậy Phật tử chúng ta muốn cảm hóa, dẫn dắt người chung quanh về con đường chánh, trước tiên phải áp dụng cho được ái ngữ, nghĩa là luôn luôn và trong mọi trường hợp, phải dùng lời dịu dàng, êm ái, thương yêu trong khi tiếp xúc với mọi người. Nhất là khi người ta đang ở trong cảnh khổ, thì những lời khuyên lơn, vỗ về lại càng vô cùng quí báu, vì có thể thoa dịu được vết thương lòng và làm cho người ta vô cùng cảm kích, khó mà có thể phai mờ được.

3. Lợi hành nhiếp

Lợi hành nhiếp là làm lợi ích cho người bằng ý nghĩ, lời nói hay hành động, khiến cho người ta sinh lòng thân mến mà theo ta học đạo.

Cái gương sáng nhất về phương diện lợi hành là cái gương Ngài Trì Ðịa Bồ Tát. Suốt đời, Ngài thường gánh đất đắp đường, ban cho bằng phẳng, hoặc bắc cầu để cho khách bộ hành đi lại được dễ dàng tiện lợi. Ngài thay người già gánh nặng, đẩy giúp cỗ xe lên dốc cao, chèo giúp cho người lái thuyền ngược nước...

Tóm lại, bất luận việc lớn nhỏ, miễn giúp ích được cho người là Ngài không bao giờ từ nan. Xem thế, thì không cần phải đợi có dủ phương tiện mới làm lợi ích cho người được. Chỉ với một ít sức khỏe cũng có thể giúp được nhiều việc lợi ích cho người rồi.

Có khi chỉ cần một ý nghĩ tốt, một lời giới thiệu hay cũng có thể giúp cho người chung quanh có công ăn việc làm.

Ðối với người giàu có nhiều phương tiện thì phạm vi hoạt động cho lợi hành lại càng rộng rãi. Họ có thể xuất tiền của ra làm nhà dưỡng lão, nuôi người tuổi già sức yếu, để tuổi già của họ bớt đen tối, nguy nan; hay họ xây viện dục anh, nuôi trẻ mồ côi cha mẹ, cho chúng học hành và có nghề nghiệp, huấn luyện cho chúng thành những công dân hữu dụng. Hay dựng trại tế bần, cấp dưỡng cơm ăn áo mặc cho kẻ đói khó, hay dựng bệnh xá để cứu chữa những kẻ bệnh tật; hay xây trường học giúp con em có nơi học hành. Ðó là bao nhiêu công việc vô cùng lợi ích, vừa cho đời vừa cho đạo. Những công việc lành ấy sẽ cảm hóa lòng người và hướng họ trở về con đường giải thoát là con đường của đạo Phật.

4. Ðồng sự nhiếp

Ðồng sự nhiếp là tùy theo căn cơ, hoài bão, địa vị, nghề nghiệp của người mà lặn lội vào công việc của họ, cộng tác với họ, để một mặt giúp đỡ họ trong nghề nghiệp, một mặt nêu cao gương lành, làm cho họ cảm mến mà theo ta đến gần đạo cả.

Chẳng hạn như khi ta cùng làm việc trong một công sở, trong một xí nghiệp, trong thương trường hay trong nông nghiệp, mà từ việc lớn cho đến việc nhỏ, từ ý nghĩ cho đến câu nói, ta luôn luôn nêu gương đạo đức, tận tâm tận lực làm việc, sẵn sàng hy sinh quyền lợi mình, cho bạn đồng nghiệp, dần dần những người cộng sự, sẽ tiêm nhiễm những đức tánh tốt đẹp của ta, sẵn sàng nghe theo, làm theo những điều ta khuyên bảo.

Ðồng sự nghiệp, là một phương pháp có hiệu quả nhất để nhiếp hóa người chung quanh quay về con đường đạo. Bố thí nhiếp, ái ngữ nhiếp hay lợi hành nhiếp, mặc dù đều cảm hóa được người, nhưng không thường trực và không có ảnh hưởng sâu xa như đồng sự nhiếp. Chẳng hạn như người được ta bố thí, hay lợi hành, thì không phải lúc nào cũng ở bên cạnh ta, mà chỉ thỉnh thoảng mới được ân huệ ấy; còn ái ngữ thì chỉ hạn cuộc trong lời nói; mà lời nói dù có hay ho êm dịu bao nhiêu, cũng không thể biến thành cơm thành áo, thành những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống đau khổ, thiếu thốn của người chung quanh được.

Nhưng với đồng sự nhiếp, ta có thể giúp đỡ một cách thiết thực và thường xuyên cho những người cùng sống trong một hoàn cảnh một nghề nghiệp với ta. Ta luôn luôn gần gũi chung đụng với họ, nên ta thấu rõ những hoài bão, tâm trạng, nhu cầu của họ; nhờ thế ta có thể giúp ích cho họ một cách có hiệu quả hơn. Ta trở thành một cột trụ chính cho họ nương tựa; vì thế ta có thể nhiếp hóa họ dễ dàng, sâu xa hơn. Một sự nhận xét thông thường là ở đâu, công sơ hay tư sở, nhà máy hay nông trường, hễ có một Phật tử chân chính, thuần thành, gương mẫu, thì ở đó số người theo Phật càng ngày càng đông, càng mạnh.

III. Lợi Ích Của Tứ Nhiếp Pháp

Nếu ta thực hành đúng theo Tứ Nhiếp Pháp ta sẽ thấy những kết quả đẹp đẽ sau đây:

1. Về phương diện cá nhân:

Ta sẽ là một con người gương mẫu; mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động của ta đều là một hạt giống thiện gieo vào ruộng phước mà sau nầy ta sẽ gặt được những kết quả quý báu, tốt lành. Những gì của ta nói ra, làm ra đều được thông cảm, tán thành, mến phục. Ta có thể thu hút nhân tâm một cách dễ dàng, rộng rãi, và mỗi khi đi đến đâu, ta đều được tiếp đón một cách chân thành, nồng nhiệt. Do đó, ta sẽ dễ dàng thành công trong mọi việc.

2. Về phương diện gia định:

Khi người ngoài, xa lạ mà còn mến phuc, thương yêu ta, thì sao cha mẹ, vợ con, anh em là những người thân thuộc lại không quý mến ta được? Do ảnh hưởng tốt đẹp và uy tín của ta, mọi người trong gia đình đều trở thành thuần lương, đức độ cả. Và một gia đình gồm những phần tử như thế, thì thể nào cũng được trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm, nghĩa là có hạnh phúc.

3. Về phương diện xã hội:

Một người tu hạnh Tứ Nhiếp pháp cũng đã gây được ảnh hưởng tốt lành và hoán cải được một phần nào hoàn cảnh xã hội. Số người tu Tứ Nhiếp Pháp cành nhiều thì xã hội lại càng được cải tiến, và trở thành thuần lương, thiện mỹ.

Người ta thường trách đạo Phật là tiêu cực yếm thế. Những lời chỉ trích sai lầm ấy, chỉ đem một giáo lý Tứ Nhiếp Pháp nầy ra chứng minh, cũng đủ đánh đổ được ngay. Thật vậy, nếu áp dụng triệt để Tứ Nhiếp Pháp vào cuộc đời thực tế, thì xã hội sẽ được cải tiến một cách vô cùng lợi lạc.

C.Kết Luận

Như trên đã nói, Tứ Nhiếp Pháp là một pháp môn để cải tiến xã hội một cách có hiệu quả nhất. Nó lấy lợi sanh làm căn bản, lấy hạnh phúc của chúng sanh làm mục đích. Ðây chúng ta hãy nhớ lại từng điểm một:

1) Hãy đem của cải giúp cho người túng thiếu, tật nguyền, đem Phật pháp giảng nói để cho mọi người cải ác tùng thiện, đem dũng lực tinh thần hay vật chất để che chở cho người chung quanh khỏi lo sợ.

2) Hãy nói lời ôn hòa nhã nhặn, để cảm hóa người ta đi theo con đường lành.

3) Hãy làm lợi ích chomọi người trong mọi trường hợp.

4) Hãy hòa mình trong cuộc sống, trong công việc của người chung quanh, để nhận rõ được người nhu cầu thiết tha của họ, hầu giúp đỡ họ một cách có hiệu quả, và đưa dần dần họ về con đường chính.

Vậy là Phật tử, chúng ta không thể dửng dưng trước những lời kêu gọi lợi tha ấy được.

Nếu chúng ta làm ngơ, chúng ta chưa phải là Phật tử chân chính, vì chúng ta đã thiếu hai yếu tố quan trọng nhất để tu hành: đó là lòng từ bi và lợi tha. Thiếu hai điểm ấy không bao giờ chúng ta có thể tiến triển trên đường đạo và thành Phật được.

HT. Thích Thiện Hoa